Trưởng đại diện UN Women tại Việt Nam: 4 nhóm giải pháp để xây dựng "Cơ sở Hội số"
Hội LHPN TP Đà Nẵng phối hợp với UN Women tại Việt Nam tổ chức 30 chuyến xe buýt ghi nhận thành tựu về bình đẳng giới tại Việt Nam, trong khuôn khổ ra mắt Chương trình chủ đạo toàn cầu “Thành phố an toàn và không gian công cộng an toàn”
Đánh giá cao Dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu Phụ nữ toàn quốc XIV, bà Caroline Nyamayemombe, Trưởng đại diện UN Women tại Việt Nam, nhận định các định hướng mới đã phản ánh toàn diện cả cơ hội lẫn những thách thức phi truyền thống trong kỷ nguyên số.
Phóng viên Báo Phụ nữ Việt Nam đã có buổi trò chuyện với bà Caroline Nyamayemombe về những bước đi đột phá nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nữ và những khuyến nghị từ kinh nghiệm quốc tế của UN Women dành cho Việt Nam.
PV: Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội XIV đặt mục tiêu Hội LHPN Việt Nam trở thành "tổ chức tiên phong hành động vì bình đẳng, phát triển của phụ nữ" vào năm 2030. Bà đánh giá thế nào về sự tương thích giữa các mục tiêu này với Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững (SDGs) của Liên Hợp Quốc, đặc biệt là Mục tiêu số 5 về Bình đẳng giới?
Bà Caroline Nyamayemombe: Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội đại biểu Phụ nữ toàn quốc lần thứ XIV cho thấy sự ưu tiên mạnh mẽ đối với bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước. Từ góc độ của UN Women, tầm nhìn đưa Hội LHPN Việt Nam trở thành "tổ chức tiên phong hành động vì bình đẳng, phát triển của phụ nữ" vào năm 2030 có sự tương đồng rất cao với tinh thần của Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững của Liên Hợp Quốc, đặc biệt là Mục tiêu Phát triển Bền vững số 5 về đạt được bình đẳng giới và trao quyền cho tất cả phụ nữ và trẻ em gái.
Điều đáng khích lệ là Báo cáo không chỉ xem phụ nữ là đối tượng thụ hưởng của phát triển, mà còn là những chủ thể của đổi mới sáng tạo, khả năng thích ứng và phát triển quốc gia. Các định hướng và chỉ tiêu được đề xuất thể hiện cách tiếp cận toàn diện nhằm giải quyết nhiều rào cản mà phụ nữ và trẻ em gái vẫn đang phải đối mặt, bao gồm bạo lực trên cơ sở giới, bất bình đẳng trong tiếp cận cơ hội kinh tế, gánh nặng công việc chăm sóc không được trả công, khoảng cách số và sự tham gia còn hạn chế trong các vị trí lãnh đạo, quản lý. Những ưu tiên này có sự tương thích chặt chẽ với các chỉ tiêu của SDG 5, đặc biệt là chỉ tiêu 5.2 về xóa bỏ bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái, chỉ tiêu 5.5 về sự tham gia và lãnh đạo của phụ nữ, và chỉ tiêu 5.a về quyền tiếp cận bình đẳng đối với các nguồn lực kinh tế.

Bà Caroline Nyamayemombe, Trưởng đại diện UN Women tại Việt Nam. Ảnh: UN Women
Chúng tôi cũng đánh giá cao việc Báo cáo đã phản ánh những thách thức mới nổi trong bối cảnh thế giới thay đổi nhanh chóng, bao gồm biến đổi khí hậu, thiên tai, ô nhiễm môi trường, lừa đảo công nghệ cao và các rủi ro an ninh phi truyền thống khác. Trong bối cảnh đó, việc nâng cấp Cuộc vận động xây dựng gia đình "5 không, 3 sạch" thành "5 không, 3 sạch, 3 an" là một định hướng rất kịp thời và có tầm nhìn dài hạn. Việc bổ sung các yếu tố "an toàn, an tâm, an sinh" thể hiện cách tiếp cận toàn diện hơn đối với hạnh phúc và chất lượng cuộc sống của phụ nữ và gia đình trước những thách thức xã hội và môi trường ngày càng phức tạp. Điều này cũng phù hợp với tinh thần của các SDGs về tăng cường khả năng chống chịu trước các rủi ro đa chiều.
Tuy nhiên, tham vọng của những mục tiêu này cũng đòi hỏi các cơ chế thực hiện mạnh mẽ và những giải pháp mang tính đột phá. Để hiện thực hóa tầm nhìn đến năm 2030, cần tiếp tục tăng cường lồng ghép giới trong phân bổ ngân sách, nâng cao năng lực thực thi chính sách; mở rộng các dịch vụ chăm sóc và an sinh xã hội có chất lượng; thúc đẩy khả năng tiếp cận đất đai, tài chính, công nghệ và kỹ năng số của phụ nữ; đồng thời bảo đảm phụ nữ, đặc biệt là các nhóm dễ bị tổn thương, có cơ hội bình đẳng tham gia vào các vị trí lãnh đạo và ra quyết định ở mọi cấp.
Quan trọng hơn, bình đẳng giới không nên chỉ được nhìn nhận là vấn đề của phụ nữ, mà là nền tảng cho sự phát triển bền vững, bao trùm và có khả năng thích ứng của quốc gia. Định hướng chiến lược được nêu trong Báo cáo gửi đi một thông điệp mạnh mẽ rằng Việt Nam đang tiếp tục đặt phụ nữ ở vị trí trung tâm trong tầm nhìn phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
PV: Thưa bà, trong Dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội, bà nhận định thế nào về nội dung ưu tiên "nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nữ" trong kỷ nguyên số? Theo kinh nghiệm của UN Women, Việt Nam cần có những chính sách đặc thù gì để phụ nữ không bị bỏ lại phía sau trước làn sóng AI và tự động hóa?
Bà Caroline Nyamayemombe: Sự phát triển của nền kinh tế số đang tạo ra nhu cầu ngày càng lớn đối với nguồn nhân lực có kỹ năng trong các lĩnh vực công nghệ, kỹ thuật và phân tích dữ liệu, khi Việt Nam đặt mục tiêu đưa kinh tế số đóng góp 20% GDP. Để hiện thực hóa tham vọng này, Việt Nam cần một lực lượng lao động chất lượng cao, đặc biệt trong các lĩnh vực Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật và Toán học (STEM).
Trong bối cảnh đó, việc ưu tiên nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nữ trong các lĩnh vực STEM, là một định hướng mang tính chiến lược đối với năng lực cạnh tranh quốc gia. Khi AI, tự động hóa, dữ liệu lớn (big data) và ngành công nghiệp bán dẫn đang làm thay đổi sâu sắc thị trường lao động trên toàn cầu cũng như tại Việt Nam, nếu phụ nữ và trẻ em gái không được trang bị kỹ năng số, năng lực STEM và khả năng thích ứng, Việt Nam có nguy cơ đánh mất một nửa tiềm năng đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực cho tương lai.

Bà Caroline Nyamayemombe (thứ 4 từ phải sang), Trưởng đại diện UN Women tại Việt Nam, dự lễ khai mạc Triển lãm ảnh hưởng ứng Tháng hành động vì bình đẳng giới & phòng ngừa bạo lực giới năm 2024 cùng lãnh đạo Bộ Công An và Giám đốc Cơ quan Liên hợp quốc về Bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ (UN Women) khu vực Châu Á - Thái Bình Dương Christine Arab (thứ 4 từ trái sang). Ảnh: UN Women
Nghiên cứu của chúng tôi năm 2024 cho thấy vấn đề không nằm ở năng lực của phụ nữ, mà chủ yếu là sự thiếu hụt cơ hội tiếp cận thông tin, sự khuyến khích, các hình mẫu truyền cảm hứng và hệ sinh thái hỗ trợ để phụ nữ và trẻ em gái tham gia vào những ngành nghề của tương lai. Điều này cho thấy cần tiếp tục giải quyết những chuẩn mực xã hội và định kiến giới đang cản trở phụ nữ và trẻ em gái lựa chọn, theo đuổi và phát triển sự nghiệp trong các lĩnh vực STEM và công nghệ.
Theo kinh nghiệm của UN Women, Việt Nam cần xây dựng một hệ sinh thái toàn diện để phát triển nguồn nhân lực nữ trong thời đại số. Hệ sinh thái này cần bao gồm cả phía cung và phía cầu, bắt đầu từ giáo dục và định hướng nghề nghiệp từ sớm, đồng thời thiết lập các mục tiêu cụ thể về học bổng, cố vấn, cơ hội thực tập và hợp tác với doanh nghiệp. Các nhà tuyển dụng cũng cần được khuyến khích áp dụng các chính sách tuyển dụng, giữ chân nhân sự, trả lương bình đẳng và phát triển lãnh đạo có trách nhiệm giới, đồng thời công khai dữ liệu về lực lượng lao động và các chỉ số đa dạng giới.
Bên cạnh đó, cần tăng cường đầu tư hỗ trợ các doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ ứng dụng công nghệ và đổi mới sáng tạo, cũng như đào tạo lại và nâng cao kỹ năng cho người lao động. Điều này sẽ góp phần bảo đảm quá trình chuyển đổi số và chuyển đổi xanh diễn ra theo hướng bao trùm và công bằng, trong đó phụ nữ tránh bị loại khỏi thị trường lao động và tiếp tục được trao cơ hội để đóng góp và hưởng lợi từ quá trình đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và tăng trưởng kinh tế bền vững của Việt Nam.
PV: Vậy đối với chỉ tiêu về việc hội viên đáp ứng yêu cầu năng lực số công dân được nêu ra trong Dự thảo báo cáo, UN Women có thể hỗ trợ gì hoặc có khuyến nghị nào để Hội LHPN Việt Nam hiện thực hóa "Cơ sở Hội số" một cách thực chất, thay vì chỉ dừng lại ở việc sử dụng mạng xã hội?
Bà Caroline Nyamayemombe: Theo tôi, hướng tới mô hình "Cơ sở Hội số" là một tầm nhìn rất tham vọng và kịp thời. Mục tiêu 80% hội viên đáp ứng yêu cầu năng lực số công dân vừa thể hiện quyết tâm cao, vừa là yêu cầu cần thiết trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ. Để hiện thực hóa tầm nhìn này một cách thực chất, cần vượt ra ngoài việc tiếp cận công nghệ cơ bản hay sử dụng mạng xã hội, để tập trung vào trao quyền, bảo đảm tính bao trùm và tạo ra những kết quả kinh tế - xã hội cụ thể cho phụ nữ.
Từ góc độ của UN Women, tôi cho rằng có 4 nhóm giải pháp quan trọng mà Hội LHPN Việt Nam có thể xem xét:
Thứ nhất, chúng ta cần trao quyền số thực chất giúp cải thiện trực tiếp cuộc sống của phụ nữ, như: Trang bị kỹ năng phục vụ sinh kế số (thương mại điện tử, tiếp thị số, kinh doanh trực tuyến và làm việc trên các nền tảng số); trang bị kỹ năng tiếp cận các dịch vụ công (Chính phủ điện tử, tài chính số và hệ thống an sinh xã hội); trang bị kỹ năng bảo đảm an toàn trên không gian mạng, đặc biệt trước các nguy cơ quấy rối trực tuyến và bạo lực giới có yếu tố công nghệ.
UN Women khuyến nghị xây dựng khung năng lực số theo từng nhóm đối tượng, từ người dùng cơ bản đến doanh nhân và lãnh đạo nữ, nhằm bảo đảm các kỹ năng được trang bị phù hợp với nhu cầu thực tiễn.
Thứ hai, cần lồng ghép chuyển đổi số vào các chức năng cốt lõi của Hội. Dự thảo Báo cáo chính trị đã nhấn mạnh vai trò của dữ liệu, công tác giám sát và chuyển đổi số trong toàn hệ thống. Trên cơ sở đó, UN Women đề xuất: Xây dựng hệ sinh thái số cho Hội, bao gồm cơ sở dữ liệu hội viên, các dịch vụ và cơ chế tiếp nhận phản hồi được kết nối đồng bộ; Sử dụng các nền tảng số để tăng cường tương tác hai chiều, giúp phụ nữ phản ánh nhu cầu, tiếp cận hỗ trợ và tham gia đóng góp chính sách; Củng cố hệ thống dữ liệu về phụ nữ và bình đẳng giới nhằm phục vụ công tác vận động chính sách và giám sát dựa trên bằng chứng. Điều này sẽ giúp Hội chuyển từ mô hình vận động truyền thống sang một tổ chức vận hành dựa trên dữ liệu, có khả năng phản hồi nhanh và lấy con người làm trung tâm.

Bà Caroline Nyamayemombe (thứ 2 từ trái sang), Trưởng đại diện UN Women tại Việt Nam, thăm cộng đồng người dân tộc thiểu số và câu lạc bộ nam giới phòng chống bạo lực giới tại tại tỉnh Điện Biên. Ảnh: UN Women
Thứ ba, cần đảm bảo không ai bị bỏ lại phía sau bởi một trong những rủi ro lớn nhất của chuyển đổi số là làm gia tăng bất bình đẳng. Nhiều phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ ở nông thôn, phụ nữ dân tộc thiểu số, phụ nữ lớn tuổi hoặc lao động trong khu vực phi chính thức, vẫn gặp nhiều rào cản về khả năng tiếp cận, kỹ năng và chi phí. Để giải quyết vấn đề này, UN Women khuyến nghị Hội LHPN Việt Nam có thể triển khai các chương trình tiếp cận và đào tạo chuyên biệt dành cho phụ nữ thuộc các nhóm dễ bị tổn thương hoặc bị thiệt thòi; Mở rộng các mô hình học tập số theo hướng xây dựng cộng đồng như cố vấn đồng đẳng hoặc "đại sứ số"; Tăng cường hợp tác với Chính phủ và khu vực tư nhân nhằm mở rộng khả năng tiếp cận thiết bị, kết nối và dịch vụ số với chi phí hợp lý. Điều này đặc biệt quan trọng để bảo đảm mục tiêu 80% năng lực số mang tính bao trùm và không chỉ đạt được đối với những nhóm đã có lợi thế sẵn.
Cuối cùng, tôi cho rằng tham vọng xây dựng một "Cơ sở Hội số" không nên chỉ thực hiện bởi riêng Hội LHPN Việt Nam mà cần có sự tham gia của các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp công nghệ, khu vực tư nhân và các đối tác phát triển, bao gồm các cơ quan Liên Hợp Quốc.
Với tinh thần đó, UN Women sẵn sàng đồng hành cùng Hội thông qua việc chia sẻ các thực tiễn tốt trên thế giới về hòa nhập số và công nghệ có trách nhiệm giới; hỗ trợ thí điểm các mô hình đổi mới như "lãnh đạo nữ trong không gian số", hợp tác xã số hay không gian mạng an toàn; đóng góp vào các hoạt động nâng cao năng lực và đối thoại chính sách về chuyển đổi số có trách nhiệm giới.
PV: Vậy đối với mục tiêu thúc đẩy phụ nữ khởi nghiệp và làm giàu chính đáng, theo bà, làm sao để các mô hình "Hợp tác xã số" hay "Kinh tế tuần hoàn" do phụ nữ làm chủ (được nêu trong dự thảo) có thể tiếp cận được chuỗi giá trị toàn cầu?
Bà Caroline Nyamayemombe: Đây là một khâu đột phá rất quan trọng, bởi hiện nay chỉ khoảng 1% giá trị mua sắm toàn cầu mang lại lợi ích cho các doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ. Những rào cản phổ biến bao gồm hạn chế về tiếp cận tài chính, thiếu hiểu biết về tiêu chuẩn quốc tế, hạn chế cơ sở hạ tầng số và năng lực thương mại điện tử, khó khăn trong đáp ứng các yêu cầu về chất lượng và tính bền vững của khách hang quốc tế, cũng như mạng lưới còn hạn chế trong việc kết nối các đối tác kinh doanh.
Theo tôi, để các mô hình "hợp tác xã số" và kinh tế tuần hoàn do phụ nữ làm chủ tiếp cận tốt hơn các chuỗi giá trị toàn cầu, cần xem xét những khía cạnh sau:
- Nâng cao năng lực số và năng lực kinh doanh: Hỗ trợ các hợp tác xã thông qua các chương trình đào tạo toàn diện về kỹ năng số, thương mại điện tử (bao gồm kết nối với các nền tảng quốc tế hoặc sàn giao dịch khu vực), phân tích dữ liệu và tiếp thị trực tuyến. UN Women đã ghi nhận nhiều mô hình thành công khi kết hợp đào tạo kỹ năng số với nâng cao năng lực quản trị hợp tác xã và quản lý tài chính, giúp phụ nữ tham gia quản lý chuỗi cung ứng hiệu quả hơn và tiếp cận các nhà mua hàng quốc tế.
- Thúc đẩy các chứng nhận xanh và phát triển bền vững: Các mô hình kinh tế tuần hoàn vốn có nhiều lợi thế trong việc đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của thị trường toàn cầu đối với các sản phẩm bền vững và có trách nhiệm. Việc hỗ trợ tiếp cận các chứng nhận như truy xuất nguồn gốc, Thương mại công bằng (Fair Trade), hữu cơ, GRS (Tiêu chuẩn Tái chế Toàn cầu) hoặc các tiêu chuẩn phát triển bền vững của Liên minh Châu Âu có thể giúp nâng cao đáng kể năng lực cạnh tranh. Việt Nam có thể xây dựng các chương trình hỗ trợ kỹ thuật chuyên biệt nhằm giúp các doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ đạt được các chứng nhận này với chi phí hợp lý hơn.
- Tăng cường quan hệ đối tác chiến lược và kết nối thị trường: Khuyến khích hợp tác giữa các hợp tác xã do phụ nữ làm chủ, khu vực tư nhân và các nhà mua hàng quốc tế thông qua các sự kiện kết nối doanh nghiệp, nền tảng giao thương B2B và việc lồng ghép các mô hình này vào các chương trình xúc tiến xuất khẩu quốc gia. UN Women có thể hỗ trợ kết nối với các mạng lưới doanh nghiệp nữ toàn cầu và các nhà đầu tư tạo tác động xã hội, những đơn vị ưu tiên các chuỗi cung ứng có trách nhiệm giới.
- Cải thiện khả năng tiếp cận tài chính và công nghệ: Phát triển các cơ chế tài chính đổi mới như các dòng tín dụng có trách nhiệm giới, đồng thời nâng cao hiểu biết về thị trường tín chỉ carbon. Đầu tư vào hạ tầng số dùng chung, chẳng hạn như các trung tâm logistics hoặc cơ sở chế biến ứng dụng công nghệ sạch do hợp tác xã sở hữu, có thể giúp giảm chi phí và nâng cao khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế.
- Hoàn thiện môi trường chính sách và hệ sinh thái hỗ trợ: Lồng ghép các mục tiêu cụ thể dành cho doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ vào các chiến lược quốc gia về kinh tế số, kinh tế tuần hoàn và phát triển xuất khẩu bền vững. Điều này bao gồm đơn giản hóa thủ tục hành chính, hỗ trợ ươm tạo doanh nghiệp và bảo đảm các hiệp định thương mại như CPTPP hay EVFTA có các cơ chế tạo điều kiện cho các nhà sản xuất quy mô nhỏ do phụ nữ làm chủ.

Cán bộ UN Women cùng người dân Đà Nẵng tham gia diễn tập phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn có lồng ghép yếu tố giới và phòng ngừa bạo lực trên cơ sở giới
Với sự kết hợp phù hợp giữa các chính sách mang tính đột phá, phát triển năng lực, mở rộng tiếp cận tài chính và thúc đẩy hợp tác quốc tế, các mô hình này hoàn toàn có thể phát triển từ những sáng kiến thành công ở cấp địa phương trở thành những chủ thể cạnh tranh trong chuỗi giá trị toàn cầu. UN Women sẵn sàng đồng hành thông qua chia sẻ tri thức, kinh nghiệm quốc tế và tăng cường hợp tác với các doanh nghiệp tạo tác động xã hội cũng như các đơn vị tiên phong trong thúc đẩy mua sắm có trách nhiệm giới, qua đó tạo thêm cơ hội để phụ nữ Việt Nam phát triển với vai trò là những doanh nhân, nhà lãnh đạo trong nền kinh tế xanh và kinh tế số của tương lai.
PV: Thưa bà, Hội LHPN Việt Nam đặt mục tiêu mở rộng quan hệ đối ngoại và chủ trì các sự kiện quốc tế lớn về bình đẳng giới. UN Women dự định sẽ đồng hành cùng Hội như thế nào để nâng tầm vị thế của phụ nữ Việt Nam trên các diễn đàn đa phương như ASEAN hay Liên Hợp Quốc trong giai đoạn 2026 - 2031?
Bà Caroline Nyamayemombe: UN Women hoan nghênh cam kết của Hội LHPN Việt Nam trong việc mở rộng hợp tác quốc tế và tham gia tích cực hơn vào các chương trình nghị sự khu vực và toàn cầu về bình đẳng giới. Chúng tôi tin rằng điều này phản ánh cam kết của Việt Nam đối với chủ nghĩa đa phương, đồng thời cho thấy vai trò và những đóng góp ngày càng tích cực của Việt Nam trong thúc đẩy bình đẳng giới, trao quyền cho phụ nữ và phát triển bền vững.
Trong bối cảnh các thách thức toàn cầu ngày càng phức tạp và có tính liên kết chặt chẽ, UN Women nhận thấy đối thoại bao trùm và hành động tập thể đóng vai trò then chốt trong việc thúc đẩy tiến bộ về bình đẳng giới. Hội LHPN Việt Nam có thể đóng vai trò quan trọng trong việc lan tỏa tiếng nói của phụ nữ, thúc đẩy đối thoại, hợp tác khu vực và hành động chung về bình đẳng giới trong ASEAN, APEC và hệ thống Liên Hợp Quốc thông qua việc đưa các bằng chứng, góc nhìn từ cộng đồng và những giải pháp thực tiễn từ cơ sở vào các diễn đàn chính sách.
Việt Nam có nhiều kinh nghiệm giá trị để chia sẻ với cộng đồng quốc tế, đặc biệt trong các lĩnh vực như thúc đẩy vai trò lãnh đạo của phụ nữ, giảm nghèo, tăng cường khả năng chống chịu của cộng đồng và triển khai Chương trình nghị sự về Phụ nữ, Hòa bình và An ninh. Với mạng lưới rộng khắp trên cả nước và sự gắn kết chặt chẽ với phụ nữ ở cộng đồng, Hội có vị thế thuận lợi để đưa tiếng nói, kinh nghiệm và những ưu tiên của phụ nữ Việt Nam vào các cuộc đối thoại khu vực và đa phương.

Ủy viên TƯ Đảng, Phó Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam, Chủ tịch Hội LHPN Việt Nam Lê Thị Thủy (thứ 4 từ phải sang) và bà Caroline Nyamayamombe, Trưởng đại diện UN Women tại Việt Nam (thứ 5 từ phải sang), cùng các đại biểu gặp mặt tại trụ sở Hội LHPN Việt Nam. Ảnh: Trường Hùng
Trong giai đoạn 2026-2031, UN Women sẵn sàng tiếp tục đồng hành cùng Hội thông qua việc ghi nhận và chia sẻ các mô hình thành công cũng như bài học kinh nghiệm trên nhiều lĩnh vực; thúc đẩy trao đổi tri thức Nam - Nam và Bắc - Nam nhằm hỗ trợ thực hiện các cam kết quốc tế; đồng thời hỗ trợ Việt Nam tham gia hiệu quả vào các cơ chế toàn cầu như Ủy ban Địa vị Phụ nữ của Liên Hợp Quốc (CSW), Công ước CEDAW và các quy trình rà soát, báo cáo liên quan đến Tuyên bố và Cương lĩnh Hành động Bắc Kinh.
Chúng tôi mong muốn tiếp tục hỗ trợ Hội tham gia và phát huy vai trò lãnh đạo trong các đối thoại khu vực và toàn cầu, quảng bá các thực tiễn tốt của Việt Nam ra quốc tế, đồng thời phối hợp tổ chức các sự kiện lớn về bình đẳng giới tại Việt Nam. Điều này sẽ góp phần nâng cao vai trò và tiếng nói của phụ nữ Việt Nam trên trường quốc tế, đồng thời khẳng định cam kết mạnh mẽ của Việt Nam đối với Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững và Mục tiêu Phát triển Bền vững số 5 về bình đẳng giới.
PV: Xin trân trọng cảm ơn bà!