Vị thế phụ nữ Việt Nam qua 81 mùa Thu độc lập
Ảnh minh họa
Trải qua 81 mùa Thu độc lập, vị thế phụ nữ Việt Nam được nâng lên cùng sự phát triển của đất nước: Từ người dân thuộc địa trở thành công dân có quyền bầu cử, ứng cử; từ học chữ đến làm chủ tri thức, công nghệ; từ lao động tạo thu nhập đến khởi nghiệp, điều hành doanh nghiệp; từ vị trí phụ thuộc đến quyền quyết định cuộc đời mình. Đó là tiến trình hai chiều: Phụ nữ góp sức làm nên thành quả phát triển; thành quả ấy lại mở rộng quyền, cơ hội và năng lực lựa chọn cho phụ nữ.
Từ quyền công dân đến tham gia lãnh đạo, quản lý
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 không chỉ thay đổi vận mệnh dân tộc mà còn làm thay đổi địa vị pháp lý, chính trị của phụ nữ. Trong cuộc Tổng tuyển cử ngày 6/1/1946, lần đầu tiên phụ nữ Việt Nam được thực hiện đầy đủ quyền bầu cử, ứng cử trên phạm vi cả nước. Trong 333 đại biểu Quốc hội khóa I có 10 đại biểu nữ, chiếm khoảng 3%. Con số còn khiêm tốn nhưng là bước đột phá trong xã hội mà trước đó phụ nữ hầu như đứng ngoài thiết chế quyền lực. Điều 9 Hiến pháp năm 1946 tiếp tục xác lập: "Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện".
Từ 10 nữ đại biểu đầu tiên, tiếng nói của phụ nữ ngày càng hiện diện rõ trong đời sống chính trị. Kết quả bầu cử năm 2026 cho thấy Quốc hội khóa XVI có 150 nữ đại biểu trong tổng số 500 đại biểu, chiếm 30%. Khoảng cách từ 3% đến 30% ghi dấu hành trình từ quyền chính trị được hiến định đến năng lực đại diện, lập pháp, giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước.

Nữ du kích, tự vệ giải phóng quân ở chiến khu về Hà Nội dự lễ độc lập, ngày 2/9/1945 - Ảnh tư liệu
Đóng góp của phụ nữ trong lãnh đạo, quản lý không chỉ nằm ở số lượng vị trí. Các thế hệ nữ cán bộ đã tham gia hoạch định, thực hiện chính sách, xây dựng chính quyền, bảo đảm an sinh, thúc đẩy giáo dục, y tế và bảo vệ nhóm dễ bị tổn thương. Trải nghiệm khác biệt của họ giúp chính sách gần hơn với đời sống. Ngược lại, Nhà nước pháp quyền, dân chủ và bình đẳng giới tạo không gian để phụ nữ trưởng thành, được lựa chọn và trao trách nhiệm.
Từ cơ hội học tập đến làm chủ tri thức, khoa học công nghệ
Năm 1945, khoảng 95% dân số Việt Nam chưa biết đọc, biết viết; phụ nữ và trẻ em gái chịu nhiều thiệt thòi hơn về cơ hội học tập. Ngày 8/9/1945, chỉ 6 ngày sau Tuyên ngôn Độc lập, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ban hành các sắc lệnh về Bình dân học vụ. Đến ngày 8/9/1946, cả nước đã tổ chức 74.957 lớp, giúp 2.520.678 người thoát nạn mù chữ. Trong cuộc vận động ấy, phụ nữ vừa học, vừa dạy, đưa tri thức vào gia đình và cộng đồng.

Lớp bổ túc văn hóa cho công nhân trong các xí nghiệp ở Hà Nội sau ngày hòa bình lập lại, năm 1954 - ẢNH: BTLS QUỐC GIA
Năm 2024, một trẻ em ở tuổi bắt đầu đi học được kỳ vọng có 12,6 năm học; hầu như không có chênh lệch giữa nam và nữ. Tỷ lệ phụ nữ từ 15 tuổi trở lên tốt nghiệp trung học phổ thông trở lên đạt 38,8%. Theo dữ liệu do Ngân hàng Thế giới cập nhật, phụ nữ chiếm 51,1% giảng viên bậc đại học ở Việt Nam năm 2024. Giáo dục đã chuyển từ cơ hội biết chữ thành nền tảng để phụ nữ sản xuất tri thức, đào tạo nhân lực và bước vào khoa học, công nghệ.
Đất nước phát triển đã đưa trường học, hạ tầng số và hệ sinh thái nghiên cứu đến gần phụ nữ hơn. Đổi lại, tri thức, sáng tạo của phụ nữ nâng chất lượng nguồn nhân lực, chăm sóc sức khỏe, năng suất lao động và sức chống chịu cộng đồng. Tuy nhiên, cơ hội học tập bình đẳng chưa tự động dẫn tới cơ hội nghề nghiệp bình đẳng. Phụ nữ cần kỹ năng số, tư duy dữ liệu, năng lực sử dụng trí tuệ nhân tạo an toàn; nữ khoa học trẻ cần cơ chế để không phải lựa chọn giữa nghiên cứu và trách nhiệm gia đình.

Nguồn: Quốc hội; Cục Thống kê; Bộ Nội vụ; World Bank/UNESCO UIS; ILO.
Từ lao động tạo thu nhập đến khởi nghiệp, làm chủ kinh tế
Trong chiến tranh, phụ nữ vừa sản xuất, vừa phục vụ và sẵn sàng chiến đấu. Trong thời kỳ đổi mới, họ là lực lượng quan trọng của thị trường lao động, các ngành sản xuất, dịch vụ, nông nghiệp và kinh tế hộ. Theo Bộ Nội vụ, tỷ lệ nữ tham gia lực lượng lao động đạt 63%; doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ đạt 28,2%. Từ lao động duy trì sinh kế, nhiều phụ nữ đã xây dựng thương hiệu, điều hành doanh nghiệp, hợp tác xã, phát triển sản phẩm xanh và đưa hàng hóa địa phương lên thị trường số.
Khoảng cách kinh tế vẫn đáng lưu ý. Theo thống kê, trong 6 tháng đầu năm 2026, thu nhập bình quân của lao động nữ là 7,8 triệu đồng/tháng, so với 10,1 triệu đồng/tháng của nam. Phụ nữ chiếm 65,8% số lao động tự sản, tự tiêu - nhóm việc làm có giá trị kinh tế thấp, dễ bị bỏ sót trong ghi nhận. Từ "có việc làm" đến "làm chủ kinh tế" vẫn còn khoảng cách về chất lượng việc làm, thu nhập, tài sản, vốn và quyền quyết định. Hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp vì thế cần đi cùng vốn, tư vấn pháp lý, công nghệ, thị trường và khả năng phát triển doanh nghiệp.
Từ vị trí phụ thuộc đến làm chủ cuộc đời
Thành quả sâu sắc của 81 năm độc lập không chỉ nằm ở địa vị xã hội, mà còn ở quyền của phụ nữ trong gia đình và đối với tương lai của mình. Phụ nữ ngày nay có quyền học tập, làm việc, kết hôn, ly hôn, sở hữu tài sản và lựa chọn nghề nghiệp. Theo Điều tra về trẻ em và phụ nữ Việt Nam 2020-2021, 60,7% phụ nữ từ 15 đến 49 tuổi đang có chồng hoặc chung sống tự quyết định về quan hệ tình dục và sử dụng biện pháp tránh thai. Tỷ lệ phụ nữ sinh con tại cơ sở y tế đạt 96,3%; năm 2025, tuổi thọ bình quân của phụ nữ đạt 77,3 tuổi.
Dẫu vậy, vẫn còn nhiều thách thức đặt ra. Khảo sát của Tổ chức Lao động Quốc tế cho thấy năm 2022, lao động nữ phi chính thức dành trung bình 4,34 giờ mỗi ngày cho việc chăm sóc không được trả công, so với 2,66 giờ của nam giới. Tỷ số giới tính khi sinh năm 2025 vẫn ở mức 109 bé trai/100 bé gái, cao hơn cân bằng tự nhiên. Gánh nặng chăm sóc và tâm lý coi trọng con trai tiếp tục thu hẹp thời gian học tập, cơ hội nghề nghiệp và quyền lựa chọn của phụ nữ.

Hội viên phụ nữ tự tin livestream quảng bá sản phẩm khởi nghiệp của mình
Làm chủ cuộc đời không thể chỉ là lời kêu gọi phụ nữ mạnh mẽ hơn. Phụ nữ cần chủ động học tập, tự chủ tài chính và dám lên tiếng; nam giới, gia đình cần chia sẻ việc nhà, trách nhiệm chăm sóc. Cấp ủy, chính quyền các cấp, cơ quan, tổ chức và toàn xã hội phải bảo đảm dịch vụ thiết yếu, phân bổ cơ hội công bằng, xử lý nghiêm bạo lực và phân biệt đối xử trên cơ sở giới. Chuyển biến thực chất đòi hỏi trách nhiệm của mỗi người, từng gia đình, các cấp, các ngành và cộng đồng.
Phát triển đất nước và tiến bộ của phụ nữ: Một vòng tròn tương hỗ
Qua 81 mùa Thu độc lập, phụ nữ Việt Nam góp phần phát triển đất nước bằng lao động, tri thức, năng lực lãnh đạo, sức sáng tạo và trách nhiệm với gia đình, cộng đồng. Họ không chỉ thụ hưởng mà còn tạo ra thành quả. Đồng thời, độc lập dân tộc, thể chế pháp quyền, tăng trưởng kinh tế, phổ cập giáo dục, tiến bộ y tế và chuyển đổi số đã mở rộng quyền công dân, cơ hội học tập, việc làm, tài sản và khả năng tự quyết của phụ nữ.
Văn kiện Đại hội XIV của Đảng xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực chính; văn hóa, con người là nền tảng; phát triển xã hội phải hiện đại, toàn diện, bao trùm và bền vững. Trong định hướng ấy, sự tham gia và thụ hưởng bình đẳng của phụ nữ không phải việc riêng của giới, mà là yêu cầu khơi thông nguồn lực con người, nâng chất lượng tăng trưởng và củng cố niềm tin xã hội.
Đất nước chỉ phát huy tiềm năng khi phụ nữ tham gia bình đẳng; tiến bộ của phụ nữ chỉ bền vững khi trở thành một phần của phát triển. Từ 3% nữ đại biểu Quốc hội khóa I đến 30% ở khóa XVI; từ khoảng 95% dân số mù chữ đến cơ hội học tập gần như bình đẳng; từ công việc ít được gọi tên đến nữ doanh nhân, nhà khoa học, nhà quản lý - mỗi con số ghi dấu bước tiến, nhắc về phần việc còn lại. Bước vào kỷ nguyên mới, mục tiêu không chỉ là phụ nữ hiện diện, mà còn có tiếng nói thực chất, nguồn lực sáng tạo, cơ hội tham gia, thụ hưởng bình đẳng và tự do lựa chọn cuộc đời.