20 năm lang bạt, nuôi niềm mong mỏi ngày về cố hương
Ảnh minh họa được tạo bởi AI
Ở tuổi 65, bà Nguyễn Thị Oanh không có gì ngoài 2 tấm bằng “Tổ quốc ghi công” và tập hồ sơ khiếu kiện dày cộp mà bà đã theo đuổi suốt 2 thập kỷ. Bước ra từ bi kịch của một bản án ly hôn, hơn 20 năm qua, cuộc đời người phụ nữ ấy là một chuỗi ngày dài với một bên là những lá đơn và một bên là cuộc mưu sinh nơi đất khách quê người.
"Cuộc chiến" pháp lý kéo dài hơn 2 thập kỷ
Căn phòng trọ rộng chưa đầy 8m2 nằm sâu trong con ngõ nhỏ ở phố Kiều Mai (phường Từ Liêm, Hà Nội) là nơi nương náu của 2 mẹ con bà Nguyễn Thị Oanh (quê ở Cà Mau) suốt nhiều năm qua. Trong căn phòng chật chội ấy chỉ kê vừa một chiếc giường, chiếc quạt máy đã ngả màu và bếp ga mini đặt sát góc tường. Đồ đạc trong căn phòng chẳng có gì đáng giá, ngoài bàn thờ nhỏ phủ tấm khăn đỏ bạc màu với di ảnh 2 liệt sĩ được đặt trang trọng ở vị trí cao nhất. Bên cạnh là những tấm bằng "Tổ quốc ghi công" đã nhuốm màu thời gian được bà Oanh ép cẩn thận trong khung kính.
Ở tuổi 65, tuổi mà đáng ra người ta được hưởng sự an nhàn, sum vầy bên con cháu thì bà Oanh vẫn đều đặn mỗi ngày thức dậy từ tờ mờ sáng để chuẩn bị đồ và đi bán bánh mì tại một khu chung cư trên địa bàn phường Xuân Phương (Hà Nội). Hơn 20 năm nay, cuộc đời bà là một chuỗi ngày rong ruổi và kiệt sức giữa hai trận tuyến, một bên là những phiên tòa, những lá đơn khiếu nại và một bên là cuộc mưu sinh.
Bước ngoặt đẩy cuộc đời bà Oanh vào chuỗi ngày lao đao bắt đầu từ vụ án ly hôn vào năm 2005. Khi ấy, con gái bà Oanh mới 4 tuổi. Sau đổ vỡ hôn nhân, những tranh chấp về tài sản giữa hai vợ chồng bà liên tục phát sinh và không thể thỏa thuận. Từ một vụ việc dân sự tưởng chừng đơn giản, câu chuyện dần dà bị đẩy đi xa, qua nhiều cấp xét xử với hàng loạt phiên tòa nối tiếp nhau từ năm này qua năm khác. Trong quá trình tranh chấp thì tài sản tranh chấp đã bị chuyển nhượng bất hợp pháp cho bên thứ ba. Người chồng cũ của bà sau đó cũng qua đời, khiến vụ việc đi vào ngõ cụt. Bà Oanh cho biết, có những ngày bà ôm tập hồ sơ nặng trĩu, đi gõ cửa từ cơ quan này sang cơ quan khác, có những phiên tòa mở rồi lại hoãn đột ngột. Có bản án vừa ban hành, tưởng như công lý đã cận kề thì lại bị xem xét lại. Mỗi quyết định hoãn, mỗi lần kháng nghị là thêm một lần cuộc đời của hai mẹ con bà bị treo lơ lửng trên vực thẳm của sự vô vọng.
Hai mươi năm qua, thời gian không chỉ làm bạc mái đầu của bà Oanh mà còn bào mòn sức khỏe, tiền bạc và chút bình yên ít ỏi của hai mẹ con bà. Những tháng ngày ấy, bà không thể nhớ nổi mình đã phải chuyển qua bao nhiêu căn phòng trọ, đi qua bao nhiêu chuyến xe khách ngược xuôi Nam - Bắc và viết bao nhiêu đơn khiếu nại. Chỉ biết rằng, xuất phát từ một tỉnh miền Tây xa xôi, hai mẹ con đã phải dạt lên TPHCM rồi cuối cùng chọn cách bám trụ lại mảnh đất Thủ đô để tiện đường đi tìm công lý.

Bà Nguyễn Thị Oanh từng bươn chải kiếm sống bằng nhiều nghề
Giữa guồng quay khiếu kiện mệt mỏi và tốn kém ấy, điều khiến bà Oanh xót xa nhất không chỉ là việc đòi lại tài sản, mà là làm sao nuôi đứa con thơ dại ăn học thành người và giữ hương khói cho hương hồn các liệt sĩ. Để tồn tại ở chốn đô thành đắt đỏ, bà Oanh đã phải trải qua những năm tháng lao động miệt mài.
Bà Oanh kể, ngày còn trẻ, bà từng nghĩ chỉ cần chăm chỉ lao động thì cuộc sống rồi sẽ ổn định nhưng sự thật không phải vậy. Hơn 20 năm trước, khi vừa đặt chân đến Hà Nội, bà xin vào làm công nhân vệ sinh môi trường. Công việc của bà bắt đầu khi phố xá lên đèn và kết thúc lúc thành phố còn chưa thức giấc. Đêm nào cũng vậy, bà lặng lẽ đẩy xe rác qua những con phố dài hun hút. Làm công nhân vệ sinh môi trường cực nhọc và độc hại, đổi lại đồng lương chỉ đủ để gia đình tằn tiện mua gạo qua ngày. 20 năm rong ruổi cùng chiếc chổi tre khiến đôi bàn tay bà chai sần thành những lớp sừng dày, lưng đau mãn tính và đầu gối thường xuyên nhức buốt mỗi khi trái gió trở trời.
Khi tuổi tác ngày càng lớn, sức khỏe giảm sút, bà Oanh buộc phải xin nghỉ công việc vệ sinh môi trường. Nhưng nghỉ việc đồng nghĩa với việc mất nguồn thu nhập duy nhất. Không bằng cấp, không nghề nghiệp khác, người phụ nữ ấy lại tiếp tục bước vào một cuộc mưu sinh mới bằng đôi chân đã mỏi mệt. Qua sự giới thiệu của một người xa lạ nhưng tốt bụng, bà được nhận vào làm công việc rửa bát thuê cho một nhà hàng. Công việc bắt đầu từ sáng sớm đến tận khuya. Hai năm rửa bát thuê là hai năm bà gần như không có khái niệm ngày nghỉ, chắt chiu từng đồng tiền công để trang trải tiền thuốc men và chi phí sinh hoạt cho gia đình.
Vài năm gần đây, khi không còn đủ sức để đứng lâu trong bếp nhà hàng, bà Oanh chuyển sang bán bánh mì. Công việc tưởng nhẹ nhàng hơn nhưng thực tế vẫn đầy nhọc nhằn. Mỗi ngày, để chuẩn bị hàng bán cho khách, bà phải thức dậy từ 4 giờ sáng để chuẩn bị nguyên liệu. Đúng 5 giờ 30 phút, khi nhiều ô cửa ở khu chung cư phía Tây Hà Nội còn chưa bật đèn, người ta đã thấy bóng dáng của bà lặng lẽ đứng bên xe bánh mỳ chờ khách.
Khách quen của bà phần lớn là công nhân xây dựng, sinh viên và những người lao động đi làm sớm. "Tôi chưa bao giờ dám cho phép mình nghỉ một ngày. Chỉ cần nghỉ một ngày là mất tiền phòng, mất tiền chợ, mẹ con tôi không biết lấy gì sống", bà Oanh tâm sự. Dẫu cuộc sống chật vật nhưng bà Oanh vẫn giữ cho mình sự tử tế và niềm lạc quan hiếm có. Nhiều khách quen biết hoàn cảnh của bà nên thường ghé ủng hộ; có người mua thêm chai nước, người dúi thêm cho bà vài chục nghìn tiền thừa rồi vội vã đi ngay…
Hơn 20 năm theo đuổi khiếu kiện, mong đòi được công bằng cho hai mẹ con, bà Oanh đã đánh đổi gần như cả tuổi xuân, sức khỏe và những tháng ngày bình yên của đời mình. Từ những căn phòng trọ chật chội đến những chuyến xe ngược xuôi gửi đơn khiếu kiện, người phụ nữ ấy chưa từng cho phép mình gục ngã, bởi phía sau bà còn có đứa con không được nhanh nhẹn, cần được chăm lo và một niềm tin.
Bà Nguyễn Thị Oanh là nhân vật trong loạt bài về trường hợp 2 mẹ con từ Bạc Liêu (cũ) ra Hà Nội để đi tìm công lý mà Báo Phụ nữ Việt Nam điện tử đã đăng tải. Theo nội dung vụ việc, bà Oanh là con liệt sĩ Nguyễn Văn Cân, cháu của 2 liệt sĩ Nguyễn Đức Sáng và Nguyễn Đức Ấn (2 liệt sĩ mà bà Oanh đang thờ cúng). Bà Oanh kết hôn với ông Tô Văn Tèo và có 1 con chung là cháu Tô Như Ý (sinh năm 2001). Sau thời gian chung sống, vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn. Năm 2005, ông Tèo nộp đơn ly hôn.
Theo các bản án sơ thẩm và phúc thẩm giai đoạn 2005-2006, ông Tèo được ly hôn, bà Oanh nuôi con, ông Tèo cấp dưỡng mỗi tháng 250.000 đồng. Phần nhà, đất được xác định không phải tài sản chung, giao ông Tèo quản lý; bà Oanh chỉ được chia một phần giá trị căn nhà và đất. Không đồng tình với phán quyết, bà Oanh liên tục khiếu nại. Trong thời gian chờ xem xét, cơ quan thi hành án huyện Đông Hải, Bạc Liêu (cũ) vẫn tiến hành cưỡng chế, buộc bà Oanh giao nhà đất cho ông Tèo. Đến năm 2009, Chánh án TAND Tối cao kháng nghị, sau đó Hội đồng Giám đốc thẩm hủy cả 2 bản án trước đó, yêu cầu xét xử lại phần tài sản.
Sau nhiều lần xét xử sơ thẩm, phúc thẩm và giám đốc thẩm (từ năm 2010 đến 2013), bà Oanh vẫn không đồng tình với phán quyết. Dù quyết định giám đốc thẩm của TAND Tối cao yêu cầu phải xác minh hoàn cảnh thực tế của hai bên, đặc biệt xem xét điều kiện nhà ở, hoàn cảnh nuôi con nhỏ và yếu tố gia đình có công với cách mạng của bà Oanh nhưng cấp phúc thẩm vẫn tuyên toàn bộ nhà đất tiếp tục được giao cho ông Tèo quản lý, sử dụng.
Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi không đi vào nội dung cụ thể vụ án mà chỉ nêu lên cuộc sống và hành trình theo đuổi một vụ kiện dân sự đằng đẵng hơn 20 năm qua và chưa biết khi nào mới kết thúc...