Xem thêm thông tin của Báo PNVN trên
Phụ nữ Việt Nam
MỚI NHẤT ĐỘC QUYỀN MULTIMEDIA CHUYÊN ĐỀ

Ai đại diện cho lao động nền tảng?

Quang Chiến
Ai đại diện cho lao động nền tảng?

Ảnh minh họa

Tài xế công nghệ, người giao hàng và những người làm việc qua ứng dụng đang trở thành một bộ phận của thị trường lao động. Nhưng khi thu nhập bị ảnh hưởng, tài khoản bị khóa hoặc gặp rủi ro, ai sẽ đứng ra bảo vệ quyền lợi cho họ?

Tự chủ giờ làm, tự gánh rủi ro

Anh Nguyễn Minh Quân (35 tuổi, Hà Nội) từng làm việc tại một doanh nghiệp vận tải với các chế độ bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp. Chuyển sang chạy xe công nghệ để chủ động thời gian, anh có thêm sự linh hoạt nhưng cũng phải tự lo những rủi ro vốn được chia sẻ trong quan hệ lao động trước đây.

Anh Quân hiểu BHXH là chỗ dựa khi về già, ốm đau hoặc không còn đủ sức làm việc. Điều khiến anh băn khoăn là thu nhập không đều: có tháng doanh thu khá, nhưng cũng có thời điểm khách ít, chi phí xăng xe tăng khiến số tiền thực nhận giảm. Trong khi tiền thuê nhà, sinh hoạt và chi phí nuôi con vẫn phải bảo đảm, việc dành ra một khoản cố định hằng tháng để đóng bảo hiểm không phải lúc nào cũng dễ dàng.

Vì vậy, anh mong chính sách dành cho tài xế công nghệ có mức đóng linh hoạt hoặc lộ trình phù hợp, tránh tạo thêm áp lực tài chính cho người lao động có thu nhập biến động. Với anh, nhu cầu được bảo vệ trong tương lai là có thật, nhưng khả năng chi trả trước mắt vẫn là điều phải tính toán.

Câu chuyện của chị Nguyễn Thu Hoài (26 tuổi), chủ một gian hàng mỹ phẩm trên sàn thương mại điện tử, lại cho thấy khó khăn của một nhóm khác trong nền kinh tế số. Bán hàng trực tuyến giúp chị có nguồn thu nhập, nhưng doanh số lên xuống theo lượng đơn và sức ép cạnh tranh. Ngoài tiền nhập hàng, người bán còn phải tính phí sàn, quảng cáo, vận chuyển và thuế.

Trước đây, chị Hoài chưa tham gia BHXH vì nghĩ mình kinh doanh tự do. Tuy nhiên, chị cho rằng nếu có cơ chế phù hợp, minh bạch về mức đóng và quyền lợi, chị sẵn sàng tham gia để có điểm tựa khi về già hoặc gặp rủi ro. Điều chị cần là được hướng dẫn rõ về đối tượng, cách đóng và quyền lợi được hưởng, thay vì phải tự tìm hiểu giữa nhiều quy định.

Hai trường hợp có đặc điểm khác nhau nhưng cùng đặt ra nhu cầu được bảo vệ trong môi trường kinh tế số. Với tài xế công nghệ, rủi ro gắn với sức khỏe, thời gian làm việc và cách nền tảng phân bổ đơn hàng. Với người bán hàng trực tuyến, nỗi lo còn nằm ở biến động doanh số, chi phí kinh doanh và khả năng tiếp cận chính sách an sinh.

Cần lưu ý, người bán hàng qua sàn thương mại điện tử không mặc nhiên là người lao động có quan hệ lao động với sàn. Tư cách pháp lý phải được xem xét theo thực tế hoạt động và mối quan hệ giữa các bên. Tuy vậy, câu chuyện của chị Hương vẫn cho thấy nhu cầu tiếp cận thông tin, tư vấn pháp luật và các cơ chế an sinh phù hợp của những người mưu sinh trong nền kinh tế số.

Theo bà Nguyễn Thị Nga, chuyên gia an sinh xã hội của Ngân hàng Thế giới, khảo sát năm 2026 với gần 4.900 người làm việc trên 4 nền tảng số tại 34 tỉnh, thành phố cho thấy 94% người được hỏi coi công việc này là nguồn thu nhập chính; 78% không tham gia BHXH trong 6 tháng trước thời điểm khảo sát.

Đây là kết quả trong phạm vi mẫu khảo sát, không phải tỷ lệ đại diện tuyệt đối cho toàn bộ lao động nền tảng tại Việt Nam. Dù vậy, những con số này cho thấy nhu cầu bảo đảm an sinh đang đặt ra rõ hơn khi công việc qua ứng dụng trở thành nguồn sống chính của nhiều người.

Công đoàn không chỉ tập hợp, phải bảo vệ

Luật Công đoàn năm 2024, số 50/2024/QH15, có hiệu lực từ ngày 1/7/2025, tạo cơ sở pháp lý cho việc tập hợp người lao động không có quan hệ lao động theo mô hình nghiệp đoàn cơ sở. Đây là hướng đi đáng chú ý với những người làm việc phân tán, không có nơi làm việc cố định và có thể nhận việc từ nhiều nền tảng.

Tuy nhiên, tập hợp được đoàn viên mới chỉ là bước đầu. Câu hỏi quan trọng hơn là khi quyền lợi bị ảnh hưởng, tổ chức Công đoàn có thể làm gì để người lao động tìm được hướng giải quyết?

Khi nhiều tài xế cùng kiến nghị về đơn giá, tỷ lệ khấu trừ hoặc điều kiện hưởng thưởng, tổ chức đại diện có thể tổng hợp phản ánh, phân tích tác động và đề nghị đối thoại. Với trường hợp tài khoản bị khóa hoặc quyền tiếp cận công việc bị hạn chế, Công đoàn có thể hướng dẫn người lao động lưu giữ dữ liệu, yêu cầu giải thích và thực hiện thủ tục khiếu nại phù hợp.

Ông Ngọ Duy Hiểu, Phó Chủ tịch Thường trực Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, cho biết tổ chức Công đoàn sẽ tiếp tục nghiên cứu, đề xuất chính sách nhằm bảo đảm quyền lợi cho lao động nền tảng số, trong đó chú trọng tăng cường thương lượng và đối thoại.

Ai đại diện cho lao động nền tảng? - Ảnh 1.

Ông Ngọ Duy Hiểu, Phó Chủ tịch Thường trực Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam

Định hướng này đòi hỏi phương thức hoạt động phải thích ứng với đặc điểm của lực lượng lao động mới. Khác với công nhân trong nhà máy, tài xế và người giao hàng di chuyển liên tục; người làm việc trực tuyến có thể ở nhiều địa phương và nhận việc từ nhiều nền tảng. Nếu chỉ dựa vào gặp gỡ trực tiếp hoặc tuyên truyền tập trung, Công đoàn khó nắm bắt đầy đủ những vấn đề phát sinh hằng ngày.

Các kênh tiếp nhận phản ánh trực tuyến, tư vấn pháp luật từ xa, nhóm kết nối theo ngành nghề và lịch đối thoại định kỳ có thể giúp người lao động tiếp cận tổ chức đại diện thuận tiện hơn. Quan trọng là mỗi phản ánh cần có đầu mối xử lý, quy trình theo dõi và kết quả phản hồi rõ ràng.

PGS.TS Nguyễn Thị Lan Hương, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học Lao động và Xã hội, nhận định lao động nền tảng là một dạng quan hệ lao động mới. Họ không hoàn toàn giống người lao động trong doanh nghiệp truyền thống, nhưng cũng không phải những cá nhân độc lập hoàn toàn, bởi công việc vẫn chịu sự điều phối của nền tảng, từ phân phối đơn hàng đến đánh giá và kiểm soát chất lượng dịch vụ.

Ai đại diện cho lao động nền tảng? - Ảnh 2.

PGS.TS Nguyễn Thị Lan Hương, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học Lao động và Xã hội

Theo bà, dữ liệu về thu nhập mà các nền tảng nắm giữ có thể là cơ sở để nghiên cứu phương thức đóng BHXH linh hoạt, phù hợp với khả năng của từng nhóm lao động. Tuy nhiên, để chính sách có thể thực hiện, cần làm rõ đối tượng tham gia, căn cứ xác định quan hệ việc làm, mức đóng và trách nhiệm của các bên.

Vai trò Công đoàn cũng không thể chỉ dừng ở vận động tham gia tổ chức hoặc hỗ trợ từng trường hợp riêng lẻ. Người lao động cần được hướng dẫn cách lưu lại dữ liệu đơn hàng, thông báo trên ứng dụng, lịch sử thu nhập và nội dung trao đổi khi phát sinh tranh chấp. Những vấn đề có tính chất chung cần được tập hợp thành kiến nghị để thúc đẩy đối thoại, thay vì để từng cá nhân tự xoay xở.

Muốn đại diện, phải có cơ chế đối thoại

Một trở ngại của lao động nền tảng là ranh giới giữa người làm việc độc lập và người làm việc trong quan hệ lao động chưa phải lúc nào cũng rõ ràng. Một người được gọi là "đối tác" không có nghĩa đương nhiên họ không có quan hệ lao động; ngược lại, làm việc qua ứng dụng cũng không tự động làm phát sinh quan hệ lao động.

Bộ luật Lao động năm 2019 quy định, dù hợp đồng mang tên gọi khác, nếu có nội dung thể hiện việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên thì vẫn có thể được xác định là hợp đồng lao động. Việc đánh giá do đó phải căn cứ vào bản chất quan hệ và điều kiện làm việc thực tế, không chỉ nhìn vào tên gọi trong thỏa thuận.

Theo ThS. Phạm Thanh Nga, hòa giải viên Adhoc, Sở Tư pháp Hà Nội, Công ước số 193 năm 2026 của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) về việc làm thỏa đáng trong nền kinh tế nền tảng đưa ra những nguyên tắc đáng tham khảo. Trong đó có xác định quan hệ việc làm dựa trên thực tế, minh bạch về tiền công và các khoản khấu trừ, bảo đảm an toàn, sức khỏe và tăng cường minh bạch khi nền tảng sử dụng thuật toán để quản lý công việc.

Người lao động cần được giải thích và có cơ hội yêu cầu xem xét lại những quyết định gây bất lợi đáng kể, chẳng hạn khóa tài khoản, chấm dứt hợp tác hoặc không thanh toán khoản tiền đến hạn. Khi không có đủ thông tin về cách tính tiền công, việc phân phối đơn hàng hay lý do tài khoản bị hạn chế, họ khó có căn cứ để tự bảo vệ quyền lợi.

Công ước số 193 được ILO thông qua ngày 12/6/2026. Tuy nhiên, việc thông qua không đồng nghĩa toàn bộ nội dung tự động trở thành pháp luật Việt Nam. Những nguyên tắc này là cơ sở tham khảo cho quá trình hoàn thiện chính sách trong nước, nhất là khi ngày càng nhiều người làm việc qua nền tảng số.

Với Công đoàn, minh bạch là điều kiện để hoạt động đại diện có hiệu quả. Khi người lao động có thông tin và căn cứ rõ ràng, tổ chức đại diện mới có thể giúp họ phân tích quyền lợi, tập hợp kiến nghị và đề nghị đối thoại về những điều kiện làm việc ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập.

Cùng với đó, chính sách an sinh cần tính đến khả năng đóng góp của người lao động, trách nhiệm của doanh nghiệp và đặc điểm thu nhập biến động. Không thể để toàn bộ gánh nặng bảo đảm tương lai dồn lên những người kiếm sống bằng từng cuốc xe, đơn hàng.

Câu hỏi "Ai đại diện cho lao động nền tảng?" vì thế không chỉ là vấn đề tư cách tổ chức. Thước đo quan trọng hơn là khi quyền lợi bị ảnh hưởng, người lao động có biết tìm đến đâu, được hỗ trợ kịp thời hay không và tiếng nói của họ có tạo ra thay đổi trong quá trình đối thoại hay không.

Công đoàn chỉ thực sự trở thành điểm tựa khi có thể biến những phản ánh riêng lẻ thành kiến nghị có căn cứ, góp phần xây dựng môi trường làm việc minh bạch và bảo đảm quyền lợi cho người lao động trong nền kinh tế số.

Ý kiến của bạn
Bình luận