Xem thêm thông tin của Báo PNVN trên
Phụ nữ Việt Nam
MỚI NHẤT ĐỘC QUYỀN MULTIMEDIA CHUYÊN ĐỀ

Bảo vệ sinh kế cho lao động nữ trong chuyển đổi xanh

Kim Thanh (thực hiện)
Bảo vệ sinh kế cho lao động nữ trong chuyển đổi xanh

ThS. Nguyễn Thi, Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường. Ảnh: Trường Hùng

Việc lồng ghép giới trong Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường không chỉ dừng lại ở các nguyên tắc chung, mà phải hướng tới bảo vệ sinh kế thực chất cho phụ nữ lao động tự do.

Phóng viên Báo Phụ nữ Việt Nam đã trao đổi cùng ThS. Nguyễn Thi, Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường, xung quanh vấn đề này.

PV: Thưa ông Nguyễn Thi, qua phân tích thực trạng quản lý chất thải rắn sinh hoạt và kinh tế tuần hoàn, ông đánh giá thế nào về vai trò cũng như những rủi ro mà lực lượng lao động nữ trong khu vực thu gom phi chính thức đang phải đối mặt hiện nay?

ThS. Nguyễn Thi: Số liệu thống kê cho thấy, khoảng 80 - 90% lực lượng thu gom phế liệu tự do (khối phi chính thức) hiện nay là phụ nữ nghèo và phụ nữ di cư. Lực lượng này đóng vai trò vô cùng quan trọng khi thu hồi tới 25 - 30% lượng rác tái chế và giúp ngân sách nhà nước tiết kiệm khoảng 30% chi phí thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải sinh hoạt. Xét theo cấu trúc kinh tế tuần hoàn, hệ thống thu gom phi chính thức chính là mắt xích kết nối cốt lõi ở cấp độ kinh tế tuần hoàn liên ngành (cấp độ thứ 3 trong 4 cấp độ: Cơ sở, ngành, liên ngành và toàn cầu).

Tuy nhiên, rủi ro lớn nhất nằm ở thiết kế chính sách trong Dự thảo Luật và các quy định liên quan đến Trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR). Nếu các quy định chỉ ưu đãi, liên kết với các đơn vị có tư cách pháp nhân, có giấy phép và hồ sơ báo cáo đầy đủ, thì lực lượng thu gom tự do, vốn không có hợp đồng lao động, không có bảo hiểm y tế và đối mặt với nguy cơ bệnh nghề nghiệp cao sẽ bị gạt ra khỏi chuỗi giá trị. Đây chính là một hình thức phân biệt đối xử gián tiếp gây mất sinh kế của phụ nữ yếu thế.

Do đó, chúng ta phải hướng đến việc chính thức hóa khu vực phi chính thức bằng các công cụ chính sách và hỗ trợ thiết thực, thực hiện chuyển đổi công bằng để nâng cấp hệ thống thu gom, tái chế ở nước ta lên quy mô công nghiệp.

Bảo vệ sinh kế cho lao động nữ trong chuyển đổi xanh- Ảnh 1.

Thống kê chỉ ra hơn 80% công việc bếp núc, nội trợ trong gia đình do phụ nữ đảm nhận, đồng nghĩa với việc nghĩa vụ phân loại rác tại nguồn đang đặt chủ yếu lên vai người phụ nữ.

PV: Từ góc độ Trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR) và việc sử dụng các công cụ tài chính như Quỹ Bảo vệ môi trường (Điều 55), ông có đề xuất gì để dòng tiền EPR hỗ trợ thực chất cho phụ nữ lao động phi chính thức?

ThS. Nguyễn Thi: Điều 55 Dự thảo Luật quy định về khoản đóng góp tài chính đối với các sản phẩm, hàng hóa không có khả năng tái chế để hỗ trợ hoạt động thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt ở địa phương. Đây là một nguồn quỹ rất lớn. Về mặt lý thuyết và thực tiễn, trong giai đoạn 5 năm tới, nguồn đóng góp của doanh nghiệp cần được dùng để hỗ trợ thu gom, chuyển đổi khối phi chính thức, tuyên truyền nâng cao nhận thức và đầu tư hạ tầng tái chế. Các Tổ chức Trách nhiệm Nhà sản xuất (PRO) khi được cấp phép phải có trách nhiệm tích hợp lực lượng lao động phi chính thức vào mạng lưới thu gom, bảo đảm các điều kiện về hợp đồng, an toàn lao động và minh bạch giá.

Đặc biệt, tôi không đồng tình với xu hướng chuyển khoản đóng góp EPR tại Điều 55 thành "phí" hay "thuế". Thuế bảo vệ môi trường hay phí sẽ hòa chung vào ngân sách nhà nước và không gắn trực tiếp với mục tiêu thu gom, tái chế. Khi chuyển thành phí hay thuế, bản chất của EPR sẽ bị biến tướng, doanh nghiệp nộp tiền xong là hết trách nhiệm và mục tiêu thúc đẩy kinh tế tuần hoàn sẽ thất bại. EPR phải giữ đúng bản chất là nguồn tài chính trực tiếp hỗ trợ thu gom, tái chế và thúc đẩy chuyển đổi công bằng cho người lao động.

Bảo vệ sinh kế cho lao động nữ trong chuyển đổi xanh- Ảnh 2.

Cần bổ sung ngay tiêu chí ưu tiên tiếp cận tài chính cho các doanh nghiệp, hợp tác xã do phụ nữ làm chủ trong lĩnh vực sản xuất sạch, nông nghiệp bền vững và tái chế.

PV: Bên cạnh lực lượng lao động tự do, vấn đề bình đẳng giới đối với các hộ gia đình và doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ trong Dự thảo Luật cần được điều chỉnh ra sao để tránh sự phân biệt đối xử gián tiếp, thưa ông?

ThS. Nguyễn Thi: Có hai điểm cốt lõi trong Dự thảo Luật cần được rà soát kỹ dưới góc độ lồng ghép giới. Trước hết là quy định thu gom chất thải tại hộ gia đình tại Khoản 2 Điều 77, khi Dự thảo cho phép cơ sở thu gom có quyền từ chối thu gom nếu hộ gia đình phân loại không đúng quy định. Thống kê chỉ ra hơn 80% công việc bếp núc, nội trợ trong gia đình do phụ nữ đảm nhận, đồng nghĩa với việc nghĩa vụ phân loại rác tại nguồn đang đặt chủ yếu lên vai người phụ nữ. Việc cho phép từ chối thu gom một cách máy móc mà không có quy trình hướng dẫn hay phản ánh minh bạch sẽ vô tình tạo áp lực không tương xứng và dễ dẫn đến sự phân biệt đối xử gián tiếp.

Bên cạnh đó, đối với chính sách ưu đãi tài chính tại Điều 61 Dự thảo Luật và Phụ lục XXI Dự thảo Nghị định, hiện nay các tiêu chí hỗ trợ vốn từ Quỹ Bảo vệ môi trường đang mang tính thuần túy kỹ thuật như năng lượng tái tạo hay đổi mới công nghệ quy mô lớn. Trong khi đó, phụ nữ lại thường làm chủ các doanh nghiệp siêu nhỏ, hợp tác xã sinh thái, hộ làng nghề. Khi vốn thiếu tài sản thế chấp và gặp rào cản về thủ tục, dẫn đến việc dòng vốn ưu đãi chủ yếu chảy vào các doanh nghiệp lớn. Vì vậy, tôi đề xuất cần bổ sung ngay tiêu chí ưu tiên tiếp cận tài chính cho các doanh nghiệp, hợp tác xã do phụ nữ làm chủ trong lĩnh vực sản xuất sạch, nông nghiệp bền vững và tái chế.

PV: Để các chính sách về bình đẳng giới và chuyển đổi công bằng trong dự thảo Luật không dừng lại ở những quy định mang tính nguyên tắc, đâu là những giải pháp then chốt nhất cần bắt tay vào thực hiện ngay, thưa ông?

ThS. Nguyễn Thi: Để hoàn thiện Dự thảo Luật Bảo vệ môi trường một cách toàn diện, chúng tôi kiến nghị sáu giải pháp trọng tâm. 

Trước hết, bắt buộc tiến hành đánh giá tác động giới trong toàn bộ quy trình xây dựng, thẩm định chính sách về chất thải, EPR và kinh tế tuần hoàn. Đồng thời, luật cần làm rõ thứ bậc ưu tiên trong quản lý chất thải rắn theo hướng ưu tiên phòng ngừa, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, thu hồi nhiên liệu, năng lượng từ chất thải trước khi xử lý, gắn liền việc phân loại rác với hạ tầng thu gom. Đối với việc thu gom tại hộ gia đình, cần quy định rõ quy trình hướng dẫn, hỗ trợ thay vì từ chối thu gom một cách máy móc.

Đối với cơ chế EPR, cần đảm bảo nguyên tắc chuyển đổi công bằng bằng cách tích hợp lực lượng lao động phi chính thức vào mạng lưới của các tổ chức PRO, qua đó cải thiện an toàn lao động và điều kiện làm việc cho họ. Cùng với đó, cần tăng cường vai trò giám sát xã hội của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trong việc tiếp nhận phản ánh, giám sát phân loại rác tại nguồn và tuyên truyền ngăn chặn vứt rác bừa bãi. 

Cuối cùng, Nhà nước cần quy định cụ thể các chính sách ưu đãi tài chính, kỹ thuật dành riêng cho các doanh nghiệp nhỏ và hợp tác xã do phụ nữ làm chủ. Khi nghĩa vụ, chi phí và lợi ích được phân bổ công bằng, phụ nữ sẽ không chỉ là người thực hiện nghĩa vụ bảo vệ môi trường, mà chính là chủ thể hoạch định chính sách, cung cấp dịch vụ và thụ hưởng thành quả của nền kinh tế xanh.

PV: Xin trân trọng cảm ơn ông !

Trong khuôn khổ dự án "Đối tác xanh do phụ nữ lãnh đạo" do Liên minh châu Âu tài trợ, chiều ngày 20/10, Hội LHPN Việt Nam đã phối hợp tổ chức Hội thảo tham vấn nhằm rà soát, đánh giá việc lồng ghép giới trong Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường 2026. Tại Hội thảo, các đại biểu và chuyên gia đã đóng góp nhiều ý kiến tâm huyết, toàn diện và giàu tính thực tiễn nhằm tháo gỡ các khoảng trống pháp lý, bảo đảm bình đẳng giới thực chất trong chính sách môi trường:

  • Bà Nguyễn Thị Lan - chuyên gia độc lập về giới: "Dự thảo Luật hiện vẫn còn "trung tính giới". Cần tăng cường vai trò giám sát của Hội LHPN Việt Nam, bổ sung dữ liệu phân tách theo giới và sửa đổi quy trình đánh giá tác động (ĐTM) để phụ nữ vùng dân tộc thiểu số và nhóm yếu thế có tiếng nói thực chất".

  • TS. Bùi Thị Thu Trang, Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường: "Phụ nữ nông thôn và miền núi gánh chịu nhiều rủi ro hơn khi thiên tai xảy ra. Cần bổ sung các định hướng đánh giá có phân tách dữ liệu theo giới, độ tuổi và tình trạng khuyết tật trong các phương án phòng, chống thiên tai và phục hồi sinh kế".

  • Ý kiến của bạn
    Bình luận