Bình đẳng giới trong chính sách nhà ở: Từ "trung tính" đến an sinh thực chất
Theo các báo cáo điều tra lao động việc làm của Tổng cục Thống kê và Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), phụ nữ, nhất là lao động di cư chủ yếu làm các công việc tự do không có hợp đồng, thu nhập bấp bênh khiến họ gặp rất nhiều khó khăn trong việc tích lũy tài chính để mua nhà. Ảnh minh họa
Không chỉ là hạ tầng hay tài sản, nhà ở là gốc rễ của an sinh xã hội. Lồng ghép bình đẳng giới trong dự án Luật Nhà ở (sửa đổi) là bước đi chiến lược nhằm chuyển hóa nhu cầu thực tế thành chính sách, tháo gỡ "rào cản kép" cho nhóm yếu thế và bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau.
Ẩn số giới đằng sau những quy định "trung tính"
Trong tư duy lập pháp truyền thống, các luật thuộc lĩnh vực kinh tế, tài sản hay hạ tầng như Luật Nhà ở thường được coi là "trung tính về giới", tức là quy định áp dụng chung cho mọi công dân mà không phân biệt nam hay nữ. Tuy nhiên, cách tiếp cận bình đẳng giới và hòa nhập xã hội (GESI) đã chỉ ra một thực tế khách quan: Một chính sách dù viết ra bằng ngôn từ bình đẳng vẫn có thể dẫn đến sự bất bình đẳng trong thụ hưởng nếu bỏ qua sự chênh lệch về vị thế kinh tế và xã hội giữa các giới trong đời sống thực tế.
Trong bối cảnh Quốc hội chuẩn bị xem xét cho ý kiến về một số định hướng chính sách lớn của dự thảo Luật Nhà ở (sửa đổi) tại Kỳ họp không thường lệ thứ nhất, sẽ diễn ra vào tháng 8/2026 và dự kiến xem xét, thông qua tại Kỳ họp thứ hai diễn ra vào tháng 10/2026, yêu cầu lồng ghép giới lại càng trở nên cấp thiết.
Dự thảo Luật sửa đổi lần này có sự tinh gọn rất lớn, giảm từ 198 Điều xuống còn 145 Điều, với định hướng tập trung quy định mang tính khung, nguyên tắc, đẩy mạnh phân cấp phân quyền theo mô hình chính quyền địa phương 02 cấp và cắt giảm thủ tục hành chính. Đặc biệt, dự thảo đã luật hóa nhiều cơ chế mới như bổ sung chương riêng về phát triển nhà ở cho thuê, chính sách nhà ở thương mại giá phù hợp và nhà ở chính sách. Khi khuôn khổ pháp lý đang chuyển hướng mạnh mẽ sang quản lý hiện đại và linh hoạt, nếu không được nhìn nhận kỹ qua lăng kính giới ngay từ khâu thiết kế, các quy định mang tính khung này rất dễ tạo ra những khoảng trống an sinh vô hình đối với phụ nữ và các nhóm yếu thế.
Thực tế thị trường lao động Việt Nam hiện nay đang phản ánh rất rõ khoảng cách này. Theo các báo cáo điều tra lao động việc làm của Tổng cục Thống kê và Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), nam giới có tỷ lệ sở hữu hợp đồng lao động chính thức cao hơn, thu nhập ổn định hơn và dễ dàng tiếp cận các nguồn tín dụng thương mại. Ngược lại, phụ nữ, nhất là lao động di cư chủ yếu làm các công việc tự do không có hợp đồng. Thu nhập bấp bênh khiến họ gặp rất nhiều khó khăn trong việc tích lũy tài chính để mua nhà.

PGS.TS Phan Thị Lan Hương, Trưởng phòng Phòng Hợp tác quốc tế, Trường Đại học Luật Hà Nội, phát biểu. Ảnh: Trung Hiếu
Khi dự thảo Luật Nhà ở (sửa đổi) đề xuất loại hình "nhà ở thương mại giá phù hợp", nếu tiêu chí "phù hợp" chỉ dựa trên mức thu nhập trung bình của thị trường mà không tính đến khoảng cách thu nhập theo giới, nhóm lao động nữ tự do sẽ rất khó có cơ hội tiếp cận. Sự tham gia của đại diện nữ giới và các nhóm yếu thế ngay từ khâu xây dựng khung giá là điều kiện tiên quyết để chính sách mang tính khả thi. Phân tích về khoảng cách này, PGS.TS Phan Thị Lan Hương, Trưởng phòng Hợp tác quốc tế, Trường Đại học Luật Hà Nội, nhận định: "Lao động nam thường có hợp đồng lao động và thu nhập ổn định hơn, trong khi phụ nữ, đặc biệt là lao động di cư, thường làm các công việc không có hợp đồng. Do đó, cần có sự tham gia của phụ nữ và các nhóm yếu thế trong quá trình xây dựng khung giá".
Nhận diện "rào cản kép" đối với các nhóm yếu thế
Bình đẳng giới thực chất trong chính sách nhà ở đòi hỏi cơ quan lập pháp và các chuyên gia phải nhìn rõ những tác động đa chiều, đặc biệt là đối với các nhóm đối tượng đang chịu "rào cản kép", những người vừa chịu gánh nặng về giới, vừa gặp bất lợi về hoàn cảnh kinh tế hoặc thể trạng sức khỏe.
Trường hợp của lao động nữ tại các khu công nghiệp là một minh chứng điển hình. Đối với lực lượng này, một chỗ ở an cư không thể tách rời hệ thống hạ tầng xã hội đồng bộ như nhà trẻ, cơ sở y tế, dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản, cùng các tiêu chuẩn an toàn mang tính giới như hệ thống chiếu sáng công cộng và nhà vệ sinh riêng biệt. Tương tự, đối với các nhóm đặc thù như phụ nữ đơn thân nuôi con (bao gồm cả con nuôi hợp pháp), người khuyết tật cao tuổi hay nạn nhân của bạo lực gia đình cần nơi tạm lánh, nếu điều kiện mua hoặc thuê nhà ở xã hội chỉ áp dụng các tiêu chuẩn hành chính cứng nhắc, họ sẽ rất dễ bị gạt ra khỏi mạng lưới an sinh.
Đánh giá ở góc độ phản biện xã hội, đại diện Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và không ít đại biểu Quốc hội chuyên trách cho rằng, chính sách nhà ở xã hội và nhà ở cho thuê do Nhà nước đầu tư cần mở rộng biên độ hỗ trợ đến các đối tượng đặc thù khác. Cụ thể, ĐBQH Bùi Hoài Sơn, Ủy ban Văn hóa và Xã hội đề xuất cần bổ sung nhóm nghệ sĩ, nghệ nhân nghèo, có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn hoặc có nhiều đóng góp cho xã hội vào diện được thụ hưởng chính sách nhà ở xã hội và thuê nhà ở giá rẻ, nhằm bảo đảm tính bao trùm của hệ thống an sinh.

Bà Phạm Thị Hồng, Phó Trưởng ban Dân chủ, Giám sát và Phản biện xã hội, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, phát biểu. Ảnh: Trung Hiếu
Bên cạnh đó, lồng ghép giới còn thể hiện ở các chính sách mang tính hỗ trợ thực chất, tiêu biểu như quy định về nhà ở công vụ cho cán bộ được luân chuyển sau sáp nhập đơn vị hành chính. Bà Phạm Thị Hồng, Phó Trưởng ban Dân chủ, Giám sát và Phản biện xã hội (Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam) đề xuất hạ tiêu chuẩn hưởng nhà ở công vụ đối với cán bộ nữ. Cụ thể áp dụng từ cấp Phó Cục trưởng thay vì Cục trưởng như nam giới. Đề xuất này xuất phát từ thực tế, do thường phải dành khoảng 5 năm tuổi trẻ cho việc sinh con và chăm sóc gia đình, phụ nữ có bước tiến sự nghiệp chậm hơn nam giới cùng lứa tuổi. Việc điều chỉnh tiêu chuẩn thụ hưởng chính là giải pháp tạo bình đẳng thực chất, giúp cán bộ nữ yên tâm cống hiến khi công tác xa nhà.
Một đạo luật có giá trị bền vững không thể chỉ dừng lại ở việc kế thừa các quy định cũ hoặc đưa ra nhận định chung chung rằng "dự thảo không tạo tác động tiêu cực đến bình đẳng giới". Yêu cầu đặt ra cho dự án Luật Nhà ở (sửa đổi) là phải có một bước chuyển mạnh mẽ về tư duy, chuyển từ đánh giá tác động thụ động sang chủ động thiết kế chính sách dựa trên hơi thở của thực tiễn.

Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội Trần Thị Thanh Lam. Ảnh: Trung Hiếu
Nhấn mạnh về định hướng tiếp cận này, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội Trần Thị Thanh Lam chỉ rõ: "Cần nhìn nhận vị thế của nam giới, nữ giới và các nhóm đối tượng đặc thù, dễ bị tổn thương từ góc độ an sinh xã hội. Thay vì chỉ đánh giá tính kế thừa của luật, cần tập trung vào những vấn đề thực tiễn, nhóm đối tượng nào đang có yêu cầu thực tế thì phải đặt ra các chính sách tương ứng".
Quán triệt tinh thần Kết luận số 444-TB/VPTW của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về chính sách đối với người khuyết tật, việc bảo đảm khả năng tiếp cận hạ tầng cho người khuyết tật, người cao tuổi hay phụ nữ mang thai cần phải được luật hóa thành nguyên tắc bắt buộc ngay từ khâu quy hoạch, thiết kế và nghiệm thu công trình nhà ở, thay vì dừng ở mức khuyến khích. Đồng thời, Báo cáo đánh giá tác động của dự án luật cần tiếp tục được hoàn thiện dựa trên các dữ liệu thực tế, rà soát để bổ sung các nhóm ưu tiên mang tính đặc thù như người đơn thân nuôi con nhỏ, người đơn thân chăm sóc người cao tuổi hay lao động nghèo.
Xây dựng Luật Nhà ở (sửa đổi) là một cơ hội lớn để hoàn thiện thể chế an sinh xã hội. Thước đo thành công của đạo luật này không chỉ nằm ở số lượng điều khoản được tinh gọn hay tốc độ giải phóng nguồn lực cho thị trường bất động sản, mà quan trọng hơn cả, là ở khả năng che chở và mang lại cơ hội an cư công bằng cho mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội.