Cơ sở do phụ nữ làm chủ được ưu tiên hỗ trợ khuyến công: Động lực mới từ chính sách
Ảnh minh họa
Cơ hội tiếp cận nguồn vốn khuyến công dành cho các cơ sở công nghiệp nông thôn đã rõ ràng hơn khi quy định ưu tiên xét chọn cho các đơn vị do phụ nữ làm chủ chính thức được cụ thể hóa. Tuy nhiên, để chính sách thực sự đi vào đời sống, sự nỗ lực vượt qua rào cản tài chính đối ứng và năng lực xây dựng đề án từ phía các nữ chủ cơ sở là điều kiện quyết định.
Bước tiến mới trong cơ chế hỗ trợ khuyến công
Ngày 25/9/2026, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 139/2026/TT-BTC hướng dẫn lập, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí khuyến công, có hiệu lực thi hành từ ngày 15/11/2026. Văn bản quy định chi tiết nguồn kinh phí hỗ trợ cho đào tạo nghề, chuyển giao công nghệ, ứng dụng máy móc tiên tiến, đổi mới quy trình sản xuất và xúc tiến thương mại tại khu vực nông thôn.
Đáng chú ý, Thông tư 139/2026/TT-BTC được triển khai đồng bộ với Nghị định số 235/2025/NĐ-CP của Chính phủ. Theo đó, khi các cơ sở công nghiệp nông thôn cùng đáp ứng đủ điều kiện nhận hỗ trợ, những cơ sở do phụ nữ làm chủ, hoặc các cơ sở sử dụng nhiều lao động nữ, lao động yếu thế, lao động người dân tộc thiểu số sẽ được ưu tiên xem xét lựa chọn.
Quy định này thể hiện sự ghi nhận vai trò kép của phụ nữ trong sản xuất nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp: Vừa là chủ thể điều hành, quyết định phương án đầu tư kinh doanh, vừa là lực lượng lao động trực tiếp tạo ra giá trị sản phẩm.
Tuy nhiên, cơ quan quản lý cũng khẳng định nguyên tắc ưu tiên xét chọn không đồng nghĩa với việc cấp vốn tự động hay trợ cấp mặc định. Để nhận được kinh phí, cơ sở sản xuất phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện pháp lý và tài chính: Đề án phải phù hợp với danh mục khuyến công được phê duyệt; chủ cơ sở đã đầu tư hoặc cam kết bảo đảm đủ phần vốn đối ứng còn lại; đồng thời cam kết chưa từng nhận hỗ trợ từ ngân sách nhà nước cho cùng một nội dung. Cơ sở do nam giới làm chủ nếu đáp ứng tốt các tiêu chí vẫn được thụ hưởng chính sách bình thường.

Việt Nam hiện có khoảng 27% đến 30% doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh do phụ nữ làm chủ hoặc có nữ giới tham gia quản lý.
Các định mức hỗ trợ tối đa theo Thông tư 139/2026/TT-BTC được phân định rõ theo từng nhóm mục tiêu:
Ứng dụng máy móc, thiết bị tiên tiến, chuyển giao công nghệ: Hỗ trợ tối đa 50% dự toán chi phí được duyệt, không quá 480 triệu đồng/cơ sở (đối với dây chuyền công nghệ, mức trần hỗ trợ đạt 1,5 lần).
Mô hình trình diễn kỹ thuật (phổ biến công nghệ hoặc sản phẩm mới): Hỗ trợ tối đa 30% dự toán, không quá 1,6 tỷ đồng/mô hình.
Áp dụng sản xuất sạch hơn, sản xuất và tiêu dùng bền vững: Hỗ trợ tối đa 30% dự toán, không quá 800 triệu đồng/mô hình.
Bức tranh thực tế và tiếng nói từ những nhà sản xuất nữ
Theo dữ liệu thống kê từ Cục Phát triển doanh nghiệp tư nhân và kinh tế tập thể và Cục Thống kê, Việt Nam hiện có khoảng 27% đến 30% doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh do phụ nữ làm chủ hoặc có nữ giới tham gia quản lý. Hầu hết các cơ sở công nghiệp nông thôn do nữ quản lý đều thuộc nhóm quy mô nhỏ và siêu nhỏ, vốn kinh doanh khiêm tốn (chủ yếu dưới 5 tỷ đồng) và đối mặt với nhiều hạn chế trong việc tiếp cận các nguồn lực tài chính chính thức.
Dù hiện nay hệ thống chính sách hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp và phát triển kinh tế khá đa dạng, từ Đề án 939 (giai đoạn 2017-2025), Đề án 2415 (giai đoạn 2026-2035 theo Quyết định 2415/QĐ-TTg về "Hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp", các gói tín dụng ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách Xã hội đến các chương trình mục tiêu quốc gia, nhưng trong thực tế, việc tiếp cận vẫn gặp không ít điểm nghẽn. Nhiều nữ chủ cơ sở cho biết thủ tục hồ sơ phức tạp, rào cản về tài sản thế chấp cũng như năng lực lập phương án kinh doanh bài bản khiến họ khó lồng ghép vào các chương trình hỗ trợ của Nhà nước.

Chị Đỗ Minh Tâm, làng nghề gốm Bát Tràng, Hà Nội
Đứng trước các quy định mới tại Thông tư 139/2026/TT-BTC, đại diện các cơ sở sản xuất nông thôn do phụ nữ làm chủ đã có những chia sẻ thẳng thắn về tính khả thi và hy vọng thực tiễn.
Tại làng nghề gốm Bát Tràng, Hà Nội, hình ảnh các nữ điều hành trẻ tuổi kết hợp nhuần nhuyễn giữa tinh hoa gia truyền với tư duy thị trường hiện đại đang ngày càng trở nên phổ biến. Là người quản lý khâu thương mại và điều hành sản xuất cho cơ sở gốm gia đình ở thôn 3 Giang Cao, chị Đỗ Minh Tâm đại diện cho thế hệ chủ hộ kinh doanh tiếp nối nghề ba đời của gia đình chồng. Bên cạnh dòng gốm nghệ thuật và các tác phẩm điêu khắc tinh xảo do bố chồng và chồng chị sáng tác, chị Tâm trực tiếp chịu trách nhiệm phát triển các mặt hàng gốm gia dụng chủ lực như ấm chén men lam phỏng cổ hay gốm họa tiết Nam Bộ. Xưởng sản xuất của gia đình chị hiện tạo công ăn việc làm ổn định cho gần 10 lao động nữ tại địa phương.
Đánh giá về cơ hội từ quy định khuyến công mới ban hành, chị Đỗ Minh Tâm chia sẻ: "Trong sản xuất gốm sứ, việc chuyển đổi từ lò nung truyền thống sang công nghệ lò điện tiên tiến hay nâng cấp hệ thống xử lý nguyên liệu có ý nghĩa sống còn để giảm tỷ lệ sản phẩm hỏng và tối ưu chi phí. Mức hỗ trợ đến 50% kinh phí máy móc cùng ưu tiên xét chọn cho cơ sở do nữ làm chủ thực sự là cú huých tích cực đối với các hộ kinh doanh làng nghề. Dù vậy, thách thức lớn nhất vẫn nằm ở điều kiện vốn đối ứng. Với một xưởng quy mô vừa và nhỏ, việc xoay xở ngay 50% tổng vốn đầu tư còn lại trước khi nhận kinh phí hỗ trợ từ ngân sách đòi hỏi sự tính toán rất kỹ về dòng tiền để tránh rủi ro thanh khoản."

Bà Nguyễn Thị Bảy, Mường Bi, Phú Thọ
Tại vùng đất Mường Bi, Hợp tác xã (HTX) Dịch vụ Nông nghiệp Lương Phú dưới sự dẫn dắt của Giám đốc Nguyễn Thị Bảy lại đại diện cho một mô hình sản xuất gắn liền với sinh kế của người lao động yếu thế. Không chỉ biến cỏ tranh thành sản phẩm thủ công mỹ nghệ xuất khẩu sang thị trường châu Âu, HTX còn trở thành điểm tựa kinh tế vững chắc cho gần 500 lao động nữ địa phương, đặc biệt là những phụ nữ lớn tuổi và có thu nhập ổn định khoảng 4 triệu đồng/tháng từ công việc đan lát nhẹ nhàng.
Nhìn nhận về quy định ưu tiên tiếp cận kinh phí khuyến công và hỗ trợ công nghệ mới, bà Nguyễn Thị Bảy cho biết: "Đối với các hợp tác xã ở vùng sâu, vùng xa, nơi phần lớn lao động là phụ nữ dân tộc thiểu số và người yếu thế, việc được ưu tiên xét chọn theo Nghị định 235 và Thông tư 139 là nguồn động viên vô cùng lớn.
Tuy nhiên, rào cản lớn nhất của chúng tôi từ trước đến nay là khâu làm hồ sơ, lập dự toán chi tiết và chứng minh năng lực tài chính đối ứng theo đúng chuẩn pháp lý. Nếu các cơ quan chức năng không có hướng dẫn tận tay hoặc cơ chế linh hoạt, những cơ sở thực sự cần vốn đổi mới máy móc tại nông thôn vẫn rất khó đáp ứng đủ điều kiện để nhận hỗ trợ.
Kiến nghị để chính sách sớm đi vào cuộc sống
Để chính sách ưu tiên hỗ trợ khuyến công không dừng lại ở nguyên tắc mà tạo ra chuyển biến thực chất trên địa bàn nông thôn, các nữ chủ cơ sở sản xuất và chuyên gia kinh tế đưa ra một số đề xuất tập trung:
Đơn giản hóa và chuẩn hóa thủ tục lập đề án: Cần có bộ tài liệu hướng dẫn mẫu và quy trình kê khai tinh gọn dành riêng cho các cơ sở sản xuất nhỏ ở nông thôn, giúp chị em dễ dàng xác định nội dung hỗ trợ phù hợp với năng lực thực tế.
Tăng cường tư vấn và hỗ trợ kỹ thuật ban đầu: Đội ngũ cán bộ khuyến công địa phương và Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp cần chủ động đồng hành, hỗ trợ các cơ sở do phụ nữ làm chủ trong khâu lập dự toán, chuẩn bị hồ sơ pháp lý và đánh giá tính khả thi của phương án đầu tư trước khi trình cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Kết nối giải pháp vốn đối ứng: Ngành chức năng cần phối hợp với các tổ chức tín dụng, quỹ hỗ trợ phát triển phụ nữ để cung cấp các gói vay ưu đãi ngắn hạn, giúp doanh nghiệp giải quyết bài toán vốn đối ứng trong thời gian chờ hoàn tất quyết toán kinh phí khuyến công.
Công khai và thu thập số liệu phân tách giới: Cơ quan quản lý khuyến công nên theo dõi, thống kê cụ thể tỷ lệ hồ sơ do phụ nữ làm chủ được thụ hưởng chính sách hằng năm. Đây sẽ là căn cứ thực tế để đánh giá chính xác tác động giới và hiệu quả thực thi của chính sách trong từng giai đoạn.