Công tác dân tộc phải thay đổi từ "nhận thức đúng" sang "hành động trúng"
PGS.TS Lê Ngọc Thắng, nguyên Viện trưởng Viện Dân tộc, Ủy ban Dân tộc (nay là Bộ Dân tộc và Tôn giáo), giảng về công tác dân tộc
Trong bối cảnh mới, trước yêu cầu công tác dân tộc phải thay đổi từ “nhận thức đúng” sang “hành động trúng”, PGS.TS Lê Ngọc Thắng, nguyên Viện trưởng Viện Dân tộc, Ủy ban Dân tộc (nay là Bộ Dân tộc và Tôn giáo), nhấn mạnh, công tác dân tộc không thể chỉ dừng ở hỗ trợ hay tuyên truyền một chiều, mà phải chuyển từ làm theo diện rộng sang làm theo đặc thù, từ phổ biến chủ trương sang tạo đồng thuận và tham gia thực chất
Tại Lớp tập huấn cập nhật kiến thức về công tác dân tộc, tôn giáo do Trung ương Hội LHPN Việt Nam vừa tổ chức, PGS.TS Lê Ngọc Thắng đã giảng dạy 2 nội dung: "Những vấn đề đặt ra trong công tác tuyên truyền, vận động hỗ trợ phụ nữ dân tộc thiểu số hiện nay; Vai trò của phụ nữ dân tộc thiểu số và phụ nữ tôn giáo trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc"; "Tổng quan về các dân tộc thiểu số ở Việt Nam theo nhóm ngôn ngữ; Quan điểm và chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác dân tộc".
Qua 2 bài giảng, PGS. TS Lê Ngọc Thắng đã phác họa bức tranh toàn diện về đồng bào dân tộc thiểu số. Những phân tích sắc sảo từ ông mang đến góc nhìn đột phá giúp hệ thống chính trị tháo gỡ hàng loạt rào cản trong vận động quần chúng.
Nhận diện rào cản đa chiều cùng sự chuyển dịch phức tạp tại cấp cơ sở
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc với 54 dân tộc anh em cùng chung sống, trong đó dân tộc Kinh là đa số và 53 dân tộc thiểu số chiếm khoảng 14,7% dân số cả nước với hơn 14,1 triệu người. Trải qua tiến trình hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, cộng đồng các dân tộc thiểu số đã hình thành, phát triển và cư trú đan xen, không có vùng lãnh thổ riêng biệt hay đơn vị hành chính nào chỉ có duy nhất một dân tộc. Đặc điểm cư trú đan xen này là một lợi thế to lớn tạo điều kiện cho giao lưu kinh tế, văn hóa và hỗ trợ nhau cùng phát triển.
Tuy nhiên, PGS.TS Lê Ngọc Thắng cũng thẳng thắn nhìn nhận sự đan xen này đồng thời đặt ra yêu cầu rất cao đối với công tác dân tộc, bởi nếu hệ thống chính trị không làm tốt thì rất dễ nảy sinh va chạm, hiểu lầm, thậm chí dẫn đến mâu thuẫn trong đời sống xã hội.

PGS.TS Lê Ngọc Thắng giảng dạy nội dung: "Tổng quan về các dân tộc thiểu số ở Việt Nam theo nhóm ngôn ngữ; Quan điểm và chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác dân tộc".
Một trong những điểm nhấn quan trọng trong bài giảng của PGS.TS Lê Ngọc Thắng là sự đa dạng và thách thức trong việc bảo tồn ngôn ngữ, văn hóa. Tiếng nói của các dân tộc ở Việt Nam thuộc 6 nhóm ngôn ngữ khác nhau, không chỉ đóng vai trò là công cụ giao tiếp mà còn là nơi lưu giữ trí nhớ văn hóa, lịch sử và bản sắc tộc người. Đáng lo ngại là trong thực tiễn tại một số địa phương, tiếng mẹ đẻ đang dần bị lấn át khiến trẻ em không còn nói được tiếng dân tộc của mình. Từ đó, ông cảnh báo nguy cơ mai một văn hóa vô cùng lớn nếu không có các giải pháp can thiệp sớm và thiết thực từ gia đình, cộng đồng cho đến nhà trường.
Bên cạnh ngôn ngữ, sự chênh lệch về quy mô dân số cũng tạo ra những bài toán mới. Có những dân tộc quy mô trên 1 triệu người (như Tày, Thái, Mường,…) nhưng cũng có những dân tộc thiểu số rất ít người với dân số dưới 1.000 người (như Ơ Đu, Brâu, Rơ Măm,…). Sự chênh lệch này kéo theo sự bất bình đẳng về năng lực tự bảo tồn văn hóa, nguồn nhân lực và khả năng tiếp cận các chính sách hỗ trợ. Chính vì lẽ đó, PGS.TS Lê Ngọc Thắng khẳng định công tác dân tộc tuyệt đối không thể áp dụng một cách đồng loạt mà phải nhận diện đúng tính đặc thù của từng dân tộc, từng địa bàn để đưa ra các giải pháp sát với thực tiễn.
Trao đổi bên lề với phóng viên, ông cung cấp thêm một góc nhìn mang tính thời sự sâu sắc về những điểm mới đang tạo áp lực lên công tác dân tộc. Theo ông, khi bộ máy chính quyền địa phương vận hành theo mô hình mới, khó khăn lớn nhất hiện nay lại nằm trĩu nặng ở cấp cơ sở, đặc biệt là cấp xã/phường.
"Đây là cấp trực tiếp bám địa bàn, tiếp xúc hàng ngày với cộng đồng trong bối cảnh quy mô địa bàn ngày càng lớn hơn và tính chất công việc phức tạp hơn. Cấp cơ sở hiện nay phải chịu tác động đồng thời của rất nhiều yếu tố đan chéo từ vấn đề dân tộc, tôn giáo, doanh nghiệp, cho đến những quan hệ xã hội mới nảy sinh trong quá trình phát triển. Nếu cán bộ không nắm chắc tình hình từ cơ sở thì việc tổ chức tuyên truyền, vận động sẽ hoàn toàn bế tắc và kém hiệu quả", PGS.TS Lê Ngọc Thắng phân tích.

PGS.TS Lê Ngọc Thắng
Trọng trách của tổ chức Hội gắn với chiến lược chuyển đổi phương thức vận động
Thực tiễn phức tạp trên đòi hỏi sự vào cuộc mạnh mẽ của toàn hệ thống chính trị, trong đó Hội LHPN Việt Nam đóng vai trò quan trọng. Tổ chức Hội đã sớm nhận thức được vị trí, vai trò của phong trào phụ nữ và dành sự quan tâm từ khá sớm đối với công tác vận động phụ nữ dân tộc thiểu số và phụ nữ tôn giáo.
Tuy nhiên, công tác vận động, hỗ trợ phụ nữ dân tộc thiểu số hiện nay đang vấp phải 5 rào cản lớn vô cùng đặc thù: Rào cản ngôn ngữ và học vấn - nhiều phụ nữ dân tộc thiểu số chủ yếu sử dụng tiếng mẹ đẻ, trong khi các nội dung truyền thông chính thức thường bằng tiếng Việt, kèm theo hạn chế về trình độ đọc hiểu; Định kiến giới và tập tục lạc hậu - thể hiện rõ nét qua nếp nghĩ cũ, tình trạng trọng nam khinh nữ, nạn tảo hôn, hôn nhân cận huyết và bạo lực gia đình.

Phụ nữ dân tộc thiểu số tham gia hoạt động tuyên truyền phòng chống bạo lực gia đình.
Tiếp cận công nghệ - sự thiếu hụt thiết bị, thiếu kết nối internet ổn định và yếu kém về kỹ năng số; Hạn chế phương thức truyền thông - nhiều buổi tuyên truyền còn quá nặng lý thuyết, khô khan, chưa biết cách tận dụng hình thức sân khấu hóa hay phát thanh bằng tiếng bản địa; Thiếu thông tin pháp luật - khiến chị em không nắm rõ các quyền lợi, chính sách an sinh xã hội hỗ trợ vùng đồng bào.
Để phá vỡ những rào cản này, PGS.TS Lê Ngọc Thắng nhấn mạnh tầm quan trọng đặc biệt của Dự án 8 "Thúc đẩy bình đẳng giới và giải quyết những vấn đề cấp thiết với phụ nữ và trẻ em" thuộc Chương trình MTQG phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN (gọi tắt là Chương trình MTQG 1719).
Hội LHPN Việt Nam là cơ quan chủ trì, hướng tới việc thay đổi nếp nghĩ, cách làm, nâng cao quyền năng kinh tế và đảm bảo tiếng nói thực chất của phụ nữ trong đời sống cộng đồng. Phụ nữ dân tộc thiểu số không chỉ là người giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, truyền dạy tiếng nói, chữ viết cho thế hệ sau mà còn là lực lượng tiên phong trong phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo và xây dựng nông thôn mới.

Thành viên Tổ truyền thông cộng đồng bản Giàng 2 (xã Hương Xuân, Hà Tĩnh) đến tận hộ dân để vận động, tuyên truyền, giúp người dân dân tộc Chứt thay đổi nếp sống, nâng cao nhận thức và phát triển kinh tế
Dựa trên những phân tích từ bài giảng và trao đổi bên lề, PGS.TS Lê Ngọc Thắng đã đề xuất một hệ thống các giải pháp chiến lược nhằm chuyển đổi phương thức hoạt động của các cấp Hội: Một, điều tra khảo sát chuyên sâu - muốn làm tốt công tác dân tộc, Hội cần tiếp cận vấn đề sớm hơn, sâu hơn và có cơ sở khoa học hơn thông qua việc tăng cường điều tra, khảo sát thực tế cấp cơ sở. Việc nắm tình hình không thể làm chung chung mà phải bám sát đặc điểm từng vùng miền, từng nhóm cư dân và tộc người cụ thể.
Hai, biên soạn tài liệu truyền thông đặc thù - từ kết quả khảo sát, cần xây dựng các bộ tài liệu truyền thông phù hợp với phong tục, tập quán, ngôn ngữ của đồng bào. Tài liệu không chỉ gói gọn trong văn bản mà nên đa dạng hóa thành tờ rơi, video, phát thanh và ứng dụng chuyển đổi số linh hoạt. Quá trình xây dựng tài liệu cần sự tham vấn liên ngành từ kinh tế, văn hóa đến tuyên giáo.

Cán bộ, học viên tham dự lớp tập huấn.
Ba, đào tạo đội ngũ tuyên truyền viên bản địa. Ưu tiên lựa chọn, bồi dưỡng người dân tộc thiểu số, người biết tiếng dân tộc thiểu số và những người có uy tín trong cộng đồng làm lực lượng nòng cốt. Họ chính là cầu nối đắc lực nhất đưa chính sách đến với bản làng một cách tự nhiên, gần gũi và dễ tiếp nhận.
Bốn, phối hợp liên ngành chặt chẽ. Hội cần có chương trình phối hợp sâu sát với Bộ Dân tộc và Tôn giáo, xác định rõ những nội dung đặc thù dựa trên nguyên tắc chung nhưng phải được cụ thể hóa theo từng vùng sinh thái như: Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ,…
Năm, chuyển đổi triết lý tiếp cận. Cần chuyển mạnh từ cách làm dàn trải, phong trào sang cách làm có điều tra, có phân loại, có tài liệu chuyên biệt. Phải kết hợp linh hoạt giữa giới thiệu lý thuyết, tham quan mô hình thực tiễn và minh họa trực quan sinh động.
"Công tác vận động phụ nữ dân tộc thiểu số trong tình hình mới không chỉ đơn thuần là việc triển khai chính sách, mà sâu xa hơn là quá trình củng cố niềm tin, tăng cường đồng thuận xã hội. Hệ thống chính trị và tổ chức Hội phải thực sự hiểu đồng bào, thấu cảm văn hóa, trân trọng ngôn ngữ và nắm vững đặc thù địa bàn để khơi dậy thành công nội lực mạnh mẽ của phụ nữ vùng cao", PGS.TS Lê Ngọc Thắng nhấn mạnh.