Khánh Hòa: Nhiều di tích "cửa đóng then cài" giữa mùa du lịch
Sau sáp nhập, tỉnh Khánh Hòa có 272 di tích được xếp hạng, gồm 3 di tích quốc gia đặc biệt, 28 di tích quốc gia, 241 di tích cấp tỉnh
Giữa lúc du lịch khởi sắc, nhiều di tích từ cấp quốc gia đến cấp tỉnh ở Khánh Hòa vẫn trong tình trạng "cửa đóng then cài" hoặc hoạt động cầm chừng, chưa được khai thác vào bản đồ du lịch địa phương. Phía sau những cánh cổng im lìm còn là tiếng thở dài của người gác đền, nỗi lo thiếu người kế thừa gìn giữ di sản...
Mai này ai giữ "hồn" di tích?
Đầu tháng 3, khi nhiều điểm tham quan nhộn nhịp khách du xuân, chúng tôi tìm đến các di tích - lịch sử trên địa bàn Khánh Hòa. Trái với sự nhộn nhịp của mùa du lịch, nhiều nơi lại trong cảnh "cửa đóng then cài".
Tại Đình Lăng - Trường Tây (phường Nha Trang) - di tích văn hoá lịch sử cấp tỉnh, cánh cổng sắt khép kín, bên trong sân vắng lặng. Theo người dân địa phương, di tích này chỉ mở vào mùng 1 và 15 âm lịch hằng tháng để người dân vào thắp hương, còn ngày thường hầu như không đón khách.
Thực tế này không chỉ diễn ra ở một điểm. Phường Nha Trang có nhiều di tích đã được xếp hạng nhưng không ít nơi rơi vào tình trạng tương tự. Người dân cho biết, các ban quản lý lo ngại nếu khách đến sẽ ảnh hưởng đến di tích, trong khi nhân sự trông coi hạn chế, nên giải pháp an toàn nhất là đóng cửa hoặc hạn chế tiếp cận.
Thế nhưng, không phải nơi nào cũng vậy.
Ghé đến di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh - Miếu Thiên Hậu Hải Nam (phường Tây Nha Trang), nơi đây cánh cửa vẫn rộng mở đón khách. Người giữ đền là bà Trầm Thị Hiền (65 tuổi). Hơn 20 năm nay, bà cùng chồng thay phiên nhau trông coi, quét dọn, hương khói.
Cuộc sống gia đình thuộc diện hộ cận nghèo, mưu sinh bằng nghề làm mì hoành thánh giao cho các quán ăn nhưng bà chưa từng nghĩ sẽ rời di tích. Với bà Hiền, việc giữ gìn ngôi miếu không chỉ là trách nhiệm, mà còn là cái duyên, là sự gắn bó đã trở thành một phần cuộc sống.
Điều khiến bà trăn trở không phải là những vất vả thường ngày, mà là câu chuyện người kế cận. Bà hiểu rằng rồi sẽ đến lúc mình không còn đủ sức để tiếp tục trông coi di tích.
"Sau này mình già yếu, không biết còn ai thay mình giữ đền nữa không. Phụ cấp khiêm tốn, người trẻ bây giờ phải lo kinh tế gia đình, mấy ai đủ điều kiện ở lại với di tích suốt ngày như vậy", bà Hiền chia sẻ.
Nỗi lo ấy càng trở nên rõ ràng khi di tích này vẫn nằm ngoài bản đồ du lịch của địa phương. Điều bà mong mỏi nhất là nơi đây được nhiều người biết đến hơn, được đưa vào bản đồ du lịch, để có thêm sự quan tâm và nguồn lực gìn giữ.
Ở di tích cấp quốc gia Văn Miếu Diên Khánh, chúng tôi gặp ông Trần Sáu, người đã hơn 50 năm gắn bó với công việc gác đền. Ở tuổi 80, ông vẫn tự tay mở cổng mỗi sáng, quét sân, lau dọn từng gian thờ, kiểm tra mái ngói, mảng tường. Khi có khách, ông trở thành "hướng dẫn viên" kể chuyện bằng tất cả niềm tự hào của người dành gần trọn đời cho di tích.

Ông Trần Sáu - người dành gần cả cuộc đời gắn bó với di tích cấp quốc gia Văn Miếu Diên Khánh
Hoàn cảnh ông Sáu thuộc diện hộ nghèo. Với mức phụ cấp vỏn vẹn 2 triệu đồng/tháng, ông không chỉ chắt chiu lo toan cho cuộc sống tuổi già của mình mà còn gánh thêm trách nhiệm nuôi người cháu đang theo học đại học, khi cha mẹ em đã sớm qua đời.
Nhưng khách không nhiều. Những ngày vắng, tiếng chổi tre quét sân dường như còn rõ hơn tiếng bước chân người tham quan.
Trên đường ghé đến di tích kiến trúc nghệ thuật Tháp Pô Klong Garai (phường Đô Vinh), một trong những điểm đến do Trung tâm Bảo tồn Di sản Văn hoá tỉnh quản lý, chúng tôi không khỏi tiếc nuối. Con đường dẫn vào di tích khá thuận lợi, hạ tầng cơ bản đảm bảo nhưng lượng khách ghé thăm lại khá thưa vắng.
Trong khi đó, cũng do đơn vị này quản lý, Tháp Bà Ponagar và Hòn Chồng (phường Bắc Nha Trang) lại thu hút đông đảo du khách mỗi ngày.
Sự tương phản ấy đặt ra nhiều câu hỏi: Khánh Hòa đặt mục tiêu tăng trưởng du lịch, quảng bá điểm đến, thu hút khách tham quan, tuy nhiên không ít di tích vẫn chưa được đưa vào khai thác bài bản. Vì sao có những di tích luôn tấp nập người tham quan, trong khi những nơi khác, dù giá trị không hề kém cạnh, vẫn đứng ngoài dòng chảy du lịch?
Tâm lý "càng mở càng hư hại" khiến nhiều nơi chọn cách bảo tồn bằng việc khép cửa. Nhưng đóng cửa liệu có phải là bảo tồn? Một di tích không có sự hiện diện của cộng đồng, không có nguồn thu tái đầu tư, liệu có thể tồn tại bền vững?
Trong bối cảnh chính quyền địa phương 2 cấp, việc phân công trách nhiệm giữa Trung tâm Bảo tồn Di sản Văn hoá tỉnh và chính quyền địa phương đối với từng di tích đã thực sự rõ ràng, hiệu quả hay chưa? Bảo tồn có phải chỉ là giữ nguyên hiện trạng, đóng cửa để tránh mọi tác động, hay còn bao gồm việc phát huy giá trị di tích trong đời sống đương đại để di sản thực sự "sống" cùng cộng đồng.
Quan trọng hơn, ai sẽ là người thắp tiếp ngọn lửa gìn giữ di tích khi những người như bà Hiền, ông Sáu và người gác đền khác đang dần bước qua bên kia dốc cuộc đời?
Chính quyền địa phương nói gì?
Mang vấn đề này đến gặp ông Trần Xuân Tây - Chủ tịch UBND phường Nha Trang, chúng tôi được nghe nhiều chia sẻ từ ông. Ông Tây cho rằng việc đưa các di tích đã được xếp hạng vào hoạt động du lịch là hướng đi cần tính đến, nhằm tạo thêm điểm đến và nguồn lực cho công tác bảo tồn. Sau sáp nhập, địa phương đã đề nghị ban quản lý các di tích kiểm kê, đánh giá hiện trạng, báo cáo mức độ xuống cấp để xây dựng phương án tu bổ phù hợp.
Theo ông Trần Xuân Tây, nhiều di tích chưa thể mở cửa thường xuyên do thiếu cơ chế cụ thể, thiếu nhân sự trông coi… Địa phương mong muốn từng bước khai thác, đưa di tích vào phục vụ tham quan nhưng phải đảm bảo không làm ảnh hưởng đến các yếu tố gốc cấu thành di tích. Để làm được điều đó, cần có sự phối hợp chặt chẽ với các đơn vị liên quan.
"Việc bảo vệ và phát huy giá trị di tích cần sự phối hợp giữa các bên. Nếu được phân quyền cụ thể, địa phương với Trung tâm Văn hoá - dịch vụ công ích phường hiện có cũng có thể đảm nhận một số nhiệm vụ trong quản lý, khai thác. Tuy nhiên, công tác chuyên môn vẫn phải do Trung tâm Bảo tồn Di sản Văn hoá tỉnh thực hiện việc hướng dẫn cho địa phương tại từng di tích…", ông Trần Xuân Tây nói.
Đồng tình với quan điểm trên, ông Nguyễn Chí Danh - Phó Chủ tịch UBND phường Tây Nha Trang - cho rằng việc đưa di tích vào hoạt động du lịch có thể trở thành một sản phẩm mới, góp phần làm phong phú thêm bức tranh du lịch địa phương.
Theo ông Danh, để từng bước khai thác một số di tích phù hợp, phường Tây Nha Trang đã xây dựng Đề án phát triển du lịch cộng đồng giai đoạn từ nay đến năm 2030: "Đề án phát triển du lịch góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế của địa phường từ nông nghiệp sang du lịch dịch vụ. Muốn thực hiện thì trên nền tảng di sản văn hoá hiện có của địa phương, cần sự đồng lòng của người dân, doanh nghiệp, sự định hướng của Đảng và Nhà nước về phát triển hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội; của các ngành liên quan như du lịch, văn hóa, bảo tồn di sản…".
Liên quan đến đội ngũ nhân sự kế cận trông coi di tích, việc lựa chọn, bố trí nhân sự do Ban quản lý di tích lựa chọn trong cộng đồng tín ngưỡng, chính quyền địa phương có trách nhiệm nắm bắt tình hình, phối hợp quá trình thực hiện.
Trao đổi với phóng viên, ông Hoàng Quý - Phó Giám đốc Trung tâm Bảo tồn Di sản Văn hóa tỉnh Khánh Hòa - cho biết sau khi thực hiện sáp nhập, đơn vị đã tổ chức nhiều đợt kiểm tra thực tế tại các di tích nhằm rà soát hiện trạng, đánh giá mức độ xuống cấp và kịp thời chấn chỉnh những vấn đề tồn tại.
Theo ông Quý, nếu địa phương có nhu cầu đưa di tích vào khai thác du lịch hoặc tổ chức hoạt động phát huy giá trị, Trung tâm luôn sẵn sàng hỗ trợ về mặt chuyên môn.
Ông cũng thẳng thắn nhìn nhận, một di tích không có hoạt động cộng đồng, không được sử dụng thường xuyên thì nguy cơ xuống cấp nhanh hơn là điều có thể xảy ra. Vì vậy, Trung tâm thường xuyên động viên các ban quản lý mở cửa định kỳ vào ngày mùng 1, ngày rằm để người dân đến dâng hương, tạo sự gắn kết với không gian di sản. Tuy nhiên, ở một số nơi, việc mở cửa còn phụ thuộc vào yếu tố tín ngưỡng, tôn giáo nên không thể áp dụng đồng loạt.
Về phân công trách nhiệm quản lý giữa Trung tâm và địa phương, hiện vẫn thực hiện theo các quy định trước thời điểm sáp nhập. Trung tâm đảm nhiệm vai trò chuyên môn, còn địa phương quản lý trực tiếp các di tích.
Liên quan đến chế độ hỗ trợ cho người trông coi di tích, ông Quý cho biết hiện Trung tâm sử dụng nguồn thu từ bán vé tham quan, dịch vụ tại các điểm do đơn vị quản lý trực tiếp như Tháp Bà Ponagar, Hòn Chồng… để chi hỗ trợ. Tuy nhiên, nguồn kinh phí này khá khiêm tốn, nên chủ yếu mới hỗ trợ được một số trường hợp trông coi di tích cấp quốc gia. Trong đó có ông Trần Sáu - người trông coi Văn Miếu Diên Khánh, kinh phí không chi trả trực tiếp mà được chuyển về địa phương để thực hiện theo quy định.
Đối với việc khai thác du lịch tại Tháp Pô Klong Garai, Trung tâm đã xây dựng sản phẩm "Cung đường di sản", kết nối tham quan từ Tháp Bà, Hòn Chồng đến Tháp Pô Klong Garai và một số điểm du lịch khác, hình thành tuyến trải nghiệm độc đáo. Tại tháp cũng duy trì đội múa Chăm biểu diễn phục vụ du khách, góp phần tăng tính hấp dẫn cho điểm đến.
Tuy nhiên, đến nay Trung tâm vẫn đang chờ UBND tỉnh phê duyệt Đề án tự chủ tài chính và Đề án tổ chức lại bộ máy. Khi chưa có cơ chế tự chủ rõ ràng, nhiều kế hoạch khai thác, đầu tư nhân lực và mở rộng hoạt động vẫn chưa thể triển khai đồng bộ.
Về nhân sự kế cận, ông Quý cho biết Trung tâm đã định hướng lâu dài bằng cách tổ chức nhiều chương trình tham quan, trải nghiệm di sản cho học sinh; phối hợp tuyên truyền, giáo dục nhằm nuôi dưỡng tình yêu di sản trong thế hệ trẻ.
Từ câu chuyện mở cửa hay đóng cửa di tích, đến bài toán nhân sự, kinh phí và khai thác du lịch, không một đơn vị nào có thể tự mình giải quyết trọn vẹn. Bảo tồn di sản đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ giữa cơ quan chuyên môn, chính quyền địa phương và các ngành liên quan.
Khi trách nhiệm được phân định rõ ràng, cơ chế phối hợp được thiết lập chặt chẽ và nguồn lực được chia sẻ hợp lý, di tích mới có thể vừa được gìn giữ nguyên vẹn, vừa phát huy giá trị trong đời sống đương đại.
Ngược lại, nếu sự phối hợp thiếu đồng bộ, mỗi bên thực hiện theo cách riêng, di sản rất dễ rơi vào tình trạng hoặc khép kín để tránh rủi ro, hoặc khai thác chưa tương xứng với tiềm năng và giá trị vốn có. Giữ một di tích không chỉ là giữ lại quá khứ, mà còn là chuẩn bị cho tương lai bằng sự quan tâm và tổ chức bài bản từ hôm nay.