Xem thêm thông tin của Báo PNVN trên
Phụ nữ Việt Nam
MỚI NHẤT ĐỘC QUYỀN MULTIMEDIA CHUYÊN ĐỀ

Làm việc gần 1 năm không có hợp đồng, bị nợ 3 tháng lương, đòi tiền bằng cách nào?

Nguyễn Hải
Làm việc gần 1 năm không có hợp đồng, bị nợ 3 tháng lương, đòi tiền bằng cách nào?

Ảnh minh họa

Làm việc gần một năm nhưng không được ký hợp đồng lao động, lại bị chủ cơ sở nợ 3 tháng tiền lương, một công nhân lo ngại không thể đòi quyền lợi vì không có hợp đồng bằng văn bản. Theo luật sư Nguyễn Duy Anh, Công ty Luật A+, người lao động vẫn có quyền yêu cầu thanh toán tiền lương và có thể sử dụng nhiều loại chứng cứ để chứng minh quan hệ lao động.

Bạn đọc N.T.L (31 tuổi, công nhân tại một công ty ở Bắc Ninh) cho biết, chị làm việc tại một cơ sở chế biến nông sản gần một năm, nhận lương hằng tháng nhưng không ký hợp đồng lao động bằng văn bản. Ba tháng gần đây, chủ cơ sở chưa trả lương và liên tục hẹn lần sau. Dù đã nhiều lần nhắn tin yêu cầu thanh toán, chị vẫn chưa nhận được tiền.

Hiện chị muốn nghỉ việc để tìm công việc khác nhưng lo ngại không thể đòi lại số tiền công còn thiếu vì không có hợp đồng lao động bằng văn bản.

Trao đổi về vấn đề này, luật sư Nguyễn Duy Anh – Công ty Luật A+ cho biết, việc không ký hợp đồng bằng văn bản không đồng nghĩa với việc người lao động mất quyền được trả lương. Pháp luật vẫn công nhận quan hệ lao động nếu thực tế có thỏa thuận về việc làm có trả công, tiền lương và có sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động.

Người lao động vẫn có quyền đòi tiền lương

Theo luật sư Nguyễn Duy Anh, khoản 1 Điều 13 Bộ luật Lao động 2019 quy định, dù không có hợp đồng bằng văn bản chính thức, nhưng nếu hai bên có thỏa thuận về việc làm có trả lương, thực tế người lao động có đi làm, nhận lương và chịu sự quản lý, điều hành của cơ sở thì pháp luật vẫn công nhận đó là quan hệ lao động.

Để chứng minh quá trình làm việc, người lao động có thể sử dụng nhiều loại tài liệu, chứng cứ như tin nhắn, email trao đổi công việc, thỏa thuận về tiền lương, trợ cấp giữa hai bên; tin nhắn yêu cầu thanh toán lương và việc chủ cơ sở hứa hẹn trả tiền; bảng lương, sao kê tài khoản ngân hàng nhận lương những tháng trước. Ngoài ra, bảng chấm công, đồng phục hoặc lời khai của đồng nghiệp làm cùng cơ sở cũng có thể được sử dụng để chứng minh việc người lao động thực tế làm việc tại đó.

Về yêu cầu ký hợp đồng, luật sư cho biết, theo Điều 14 Bộ luật Lao động 2019, do người lao động đã làm việc gần một năm nên pháp luật bắt buộc chủ cơ sở phải ký hợp đồng lao động bằng văn bản. Việc không ký hợp đồng là lỗi vi phạm của người sử dụng lao động, hoàn toàn không làm mất quyền yêu cầu trả lương của người lao động.

Hành vi không giao kết hợp đồng bằng văn bản với người lao động làm việc từ đủ 1 tháng trở lên có thể bị xử phạt vi phạm hành chính từ 4 triệu đồng đến 10 triệu đồng theo Điều 15 và khoản 1 Điều 7 Nghị định 283/2026/NĐ-CP.

Không chỉ vi phạm quy định về giao kết hợp đồng, việc chậm trả lương cũng là hành vi người sử dụng lao động phải chịu trách nhiệm. Theo Điều 94 Bộ luật Lao động 2019, người sử dụng lao động có nghĩa vụ trả lương đầy đủ, đúng thời hạn cho người lao động.

Hành vi không trả lương đúng hạn có thể bị xử phạt vi phạm hành chính từ 10 triệu đồng đến 20 triệu đồng, đồng thời buộc trả đủ tiền lương và khoản tiền lãi của số tiền lương chậm trả theo khoản 5 Điều 23 Nghị định 283/2026/NĐ-CP.

Làm việc gần 1 năm không có hợp đồng, bị nợ 3 tháng lương, đòi tiền bằng cách nào?- Ảnh 1.

Luật sư Nguyễn Duy Anh – Công ty Luật A+

Có thể yêu cầu hòa giải, khởi kiện và nghỉ việc nếu bị nợ lương

Về cách đòi lại 3 tháng tiền lương còn thiếu, theo luật sư Nguyễn Duy Anh, trước hết, người lao động nên gửi tin nhắn, email hoặc làm đơn yêu cầu chủ cơ sở thanh toán tiền lương. Việc này vừa thể hiện người lao động đã chủ động yêu cầu giải quyết quyền lợi, vừa giúp lưu lại chứng cứ phục vụ quá trình giải quyết tranh chấp sau này.

Nếu chủ cơ sở tiếp tục trốn tránh, người lao động có thể đề nghị hòa giải tranh chấp lao động. Theo khoản 1 Điều 188 Bộ luật Lao động 2019, tranh chấp lao động về tiền lương phải thông qua thủ tục hòa giải trước khi khởi kiện ra Tòa án.

Người lao động có thể gửi đơn kèm các chứng cứ đã thu thập đến Thanh tra Sở Nội vụ nơi cơ sở hoạt động, đề nghị hòa giải tranh chấp lao động. Đồng thời, cần nêu rõ hành vi không ký hợp đồng lao động bằng văn bản và không trả lương đúng hạn của cơ sở để yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xem xét, xử phạt vi phạm hành chính.

Trường hợp hòa giải không thành hoặc chủ cơ sở không chịu trả tiền dù đã hòa giải thành, người lao động có quyền yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động giải quyết hoặc nộp đơn khởi kiện tranh chấp lao động tại Tòa án nhân dân khu vực nơi cơ sở đặt trụ sở theo quy định tại khoản 7 Điều 188 Bộ luật Lao động 2019.

Một vấn đề khác người lao động cần lưu ý là thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp. Căn cứ Điều 190 Bộ luật Lao động 2019, thời hiệu được tính từ ngày phát hiện hành vi vi phạm và cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Cụ thể, thời hiệu yêu cầu hòa giải viên lao động giải quyết là tối đa 6 tháng; yêu cầu Hội đồng trọng tài lao động giải quyết là tối đa 9 tháng; yêu cầu Tòa án giải quyết là tối đa 1 năm.

Đối với băn khoăn có phải tiếp tục làm việc trong thời gian chờ giải quyết tranh chấp hay không, luật sư Nguyễn Duy Anh cho biết, người lao động không nhất thiết phải tiếp tục làm việc tại cơ sở nếu không được trả đủ lương hoặc trả lương không đúng hạn.

Theo điểm b khoản 2 Điều 35 Bộ luật Lao động 2019, người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không cần báo trước nếu không được trả đủ lương hoặc trả lương không đúng hạn, trừ trường hợp bất khả kháng theo quy định.

Như vậy, người lao động có thể nghỉ việc để tìm công việc khác, đồng thời thực hiện các bước yêu cầu thanh toán, hòa giải hoặc khởi kiện nhằm đòi lại khoản tiền lương còn thiếu.

Ý kiến của bạn
Bình luận