Muốn vợ chồng trẻ sinh đủ 2 con, cần phải có chính sách hỗ trợ đồng bộ
Ảnh minh họa
Mức sinh thấp đang đặt ra yêu cầu mới đối với công tác dân số. Theo GS Nguyễn Đình Cử, truyền thông về hôn nhân, sức khỏe sinh sản và nuôi con cần đi trước một bước, nhưng để người trẻ thực sự sẵn sàng sinh con, cần phải có chính sách hỗ trợ đồng bộ và những hình thức khuyến khích, động viên kịp thời.
Hà Nội dự kiến hỗ trợ 4 triệu đồng cho phụ nữ sinh đủ 2 con trước 35 tuổi
UBND TP Hà Nội đang lấy ý kiến dự thảo nghị quyết về công tác dân số. Theo đề xuất, phụ nữ sinh đủ 2 con trước 35 tuổi được hỗ trợ 4 triệu đồng/người/lần sinh; phụ nữ sinh con thuộc diện hỗ trợ khác được hỗ trợ 2 triệu đồng/lần sinh. Chính sách dự kiến áp dụng từ 1/1/2027.
Ngoài ra, Hà Nội đề xuất hỗ trợ 1 triệu đồng/cặp cho nam, nữ kết hôn đúng độ tuổi và thực hiện tư vấn, khám sức khỏe trước kết hôn.
- Thưa Giáo sư, trong bối cảnh mức sinh tại nhiều địa phương đang thấp hơn mức sinh thay thế, ông đánh giá thế nào về việc tăng cường cung cấp kiến thức chuẩn bị kết hôn, chăm sóc sức khỏe sinh sản và nuôi con nhỏ trên nền tảng số?
Thay đổi hành vi của con người về một vấn đề nào đó là cả một quá trình. Trước hết, phải có thông tin về vấn đề đó, có kiến thức và nhận thức đúng đắn, có thái độ tích cực. Từ đó mới có thể dẫn tới chuyển đổi hành vi.
Trong xã hội hiện đại, hôn nhân, chăm sóc sức khỏe sinh sản và nuôi con nhỏ cần được cung cấp thông tin, được giảng dạy. Nhận thức và thái độ về những lĩnh vực này cũng cần được trao đổi. Vì vậy, vai trò của truyền thông rất quan trọng. Truyền thông phải đi trước một bước.
Luật Dân số năm 2025, sau những quy định chung đã dành hẳn chương II quy định về truyền thông, vận động và giáo dục về dân số. Điều đó cho thấy tầm quan trọng của truyền thông trong công tác dân số.
Trước đây, chúng ta có truyền thông trực tiếp và các kênh gián tiếp như báo viết, báo nói, báo hình. Trong thời đại số, xuất hiện thêm các kênh truyền thông trên nền tảng số.
Từ khi Internet chính thức được cung cấp tại Việt Nam năm 1997, hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông của quốc gia đã phát triển mạnh mẽ. Đến năm 2025, tỷ lệ hộ gia đình Việt Nam kết nối Internet đạt 93,3%, 87,1% dân số sử dụng Internet và 80,3% người dân tham gia mạng xã hội.
Đáng chú ý, nhóm dân số trẻ - lực lượng nòng cốt trong độ tuổi kết hôn - có mức độ tiếp cận không gian số rất cao. Nhóm 19-24 tuổi có tỷ lệ sử dụng Internet lên tới 99,1% và tỷ lệ tham gia mạng xã hội đạt 98,4%. Tỷ lệ người dân sở hữu điện thoại di động đạt 87,3%, trong đó 80,3% sử dụng điện thoại thông minh.
Đây là cơ sở vật chất kỹ thuật rất thuận lợi cho truyền thông nói chung và truyền thông về dân số, sức khỏe sinh sản, hôn nhân, gia đình nói riêng.
Truyền thông trên nền tảng số có nhiều ưu thế so với phương thức truyền thông trước đây. Người tiếp nhận có thể tiếp cận thông tin mọi lúc, mọi nơi. Người truyền thông có thể lựa chọn các chuyên gia hàng đầu của đất nước tham gia cung cấp kiến thức, điều mà phương thức "đi từng ngõ, gõ từng nhà" trước đây khó có thể thực hiện.
Mặt khác, người truyền và người nhận có thể trao đổi trực tiếp. Người nhận có thể nghe, đọc và lưu trữ các bản tin. Vì vậy, truyền thông trên nền tảng số cần trở thành một kênh truyền thông chủ yếu hiện nay.

GS Nguyễn Đình Cử, nguyên Viện trưởng Viện Dân số và các vấn đề xã hội thuộc Trường Đại học Kinh tế Quốc dân.
- Theo ông, việc tuyên truyền về lợi ích của sinh đủ hai con cần được thực hiện như thế nào để không chỉ dừng ở vận động mà thực sự giúp các cặp vợ chồng trẻ cảm thấy có điều kiện và sẵn sàng sinh con?
Theo tôi, chỉ truyền thông về lợi ích của sinh đủ hai con mà kỳ vọng các cặp vợ chồng trẻ sẵn sàng sinh con là bất khả thi. Cần thực hiện đồng bộ " công thức" : Đẩy mạnh truyền thông + chính sách hỗ trợ đồng bộ + khen thưởng, động viên kịp thời mới thể nâng cao mức sinh. Truyền thông về hậu quả của mức sinh thấp cũng là một cách tuyên truyền về lợi ích của việc sinh đủ hai con.
Nước ta mới bước vào thời kỳ mức sinh thấp dưới ngưỡng thay thế nên những hậu quả kinh tế, xã hội và dân số của mức sinh thấp chưa bộc lộ hết. Vì vậy, có thể truyền thông về bài học mà các nước đi trước đã phải trả giá, chẳng hạn Nhật Bản, Hàn Quốc.
Truyền thông từ thực tế cũng có thể là một cách làm hiệu quả. Ở địa phương nào cũng có thể có những người cao tuổi chưa bao giờ kết hôn, sinh con hoặc những người kết hôn nhưng không sinh con. Cộng đồng, thanh niên cần hỗ trợ những gia đình neo đơn như vậy. Qua đó, thế hệ trẻ có thể thấu hiểu hơn tình trạng tuổi già độc thân và những hệ quả của việc không có con.
Tuy nhiên, một lần nữa phải nhấn mạnh rằng truyền thông chỉ là một phần. Muốn người dân thay đổi quyết định sinh con thì chính sách phải tạo được điều kiện thực tế để họ có thể sinh và nuôi con.
Cần áp dụng "công thức" khuyến sinh
- Bộ Y tế dự kiến triển khai nhiều hoạt động dành cho nam, nữ thanh niên chuẩn bị kết hôn, phụ nữ mang thai và nuôi con nhỏ. Theo Giáo sư, những nội dung kiến thức nào cần được ưu tiên để đáp ứng đúng nhu cầu của người trẻ hiện nay?
Tôi cho rằng cần ưu tiên ít nhất 4 nhóm nội dung: Thứ nhất là vì sao cần kết hôn và sinh đủ hai con; Thứ hai là khám sức khỏe trước kết hôn; Thứ ba là tầm soát trước sinh; Thứ tư là tầm soát sơ sinh.
So với hôn nhân và sinh sản truyền thống, đây là những vấn đề mới, mang tính cách mạng ở Việt Nam. Vì vậy, người trẻ cần được trang bị kiến thức đầy đủ để có thể chủ động đưa ra quyết định và chăm sóc sức khỏe sinh sản một cách khoa học.

Đẩy mạnh truyền thông, chính sách hỗ trợ đồng bộ, khen thưởng, động viên kịp thời để khuyến khích gia đình sinh đủ 2 con.
- Một trong những nội dung đáng chú ý là tư vấn, sàng lọc nguy cơ vô sinh, đặc biệt tại các khu công nghiệp. Ông đánh giá thế nào về sự cần thiết của việc phát hiện sớm và chủ động chăm sóc sức khỏe sinh sản đối với các cặp vợ chồng trẻ?
Theo các số liệu được Bộ Y tế Việt Nam công bố, tỷ lệ vô sinh, hiếm muộn ở các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ ở Việt Nam khoảng 7,7%, tương đương khoảng 1 triệu cặp vợ chồng. Đáng chú ý, vô sinh thứ phát đang gia tăng và chiếm khoảng một nửa số trường hợp vô sinh, hiếm muộn.
Tỷ lệ 7,7% là không nhỏ. Khi vô sinh, hiếm muộn xảy ra, hạnh phúc gia đình có thể bị ảnh hưởng nghiêm trọng, đồng thời tác động đến mức sinh.
Thế hệ trẻ ngày nay có may mắn được sống trong thời đại của cách mạng khoa học kỹ thuật, có thể phòng tránh và điều trị vô sinh, hiếm muộn. Vì vậy, cần tận dụng những thành quả khoa học để chủ động phòng tránh và chữa trị vô sinh, hiếm muộn.
- Theo ông, để chính sách khuyến khích sinh đủ hai con đi vào cuộc sống, bên cạnh truyền thông và tư vấn, những chính sách hỗ trợ nào về việc làm, nhà ở, giáo dục, chăm sóc trẻ và giảm chi phí nuôi con cần được chú trọng hơn?
Tôi xin nhắc lại công thức để sinh đủ hai con: đẩy mạnh truyền thông + chính sách hỗ trợ đồng bộ + khen thưởng, động viên kịp thời.
Phải đồng bộ nhiều chính sách, không chỉ là việc làm, nhà ở, giáo dục, chăm sóc trẻ và giảm chi phí nuôi con mà ngay cả chính sách an sinh xã hội đối với người cao tuổi cũng cần được quan tâm.
Trong đó, chăm sóc trẻ và giảm chi phí nuôi con là vấn đề rất quan trọng. Bởi cha mẹ nuôi con nhỏ đồng nghĩa với việc họ vẫn phải đi làm. Câu hỏi đặt ra là: Làm sao kết hợp được chức năng sinh sản, nuôi con với sự nghiệp và phát triển bản thân trong bối cảnh kinh tế thị trường cạnh tranh gay gắt?
Muốn giải quyết bài toán này, cần xã hội hóa chăm sóc trẻ em, phát triển các nhà trẻ có chất lượng với giá cả phải chăng, đồng thời Nhà nước và cộng đồng cùng chia sẻ chi phí nuôi trẻ với các cặp vợ chồng.
Đây không chỉ là vấn đề xã hội, nhân văn mà còn là vấn đề pháp lý. Khi muốn khuyến khích sinh con, chính sách phải tạo ra những điều kiện cụ thể để người dân có thể thực hiện mong muốn đó.

Phải động bộ nhiều chính sách để hỗ trợ người trẻ sinh đủ 2 con.
- Từ góc độ dân số, Giáo sư kỳ vọng việc triển khai đồng bộ các hoạt động này sẽ tác động như thế nào đến quyết định kết hôn, sinh con của người trẻ và bài toán mức sinh của Việt Nam trong những năm tới?
Luật Dân số năm 2025 mới đề ra những quy định hỗ trợ sinh sản mang tính khuyến sinh, nên chưa có cơ sở thực tiễn để đánh giá đầy đủ tác động của chính sách.
Kinh nghiệm thế giới cho thấy các chính sách khuyến sinh có thể không đem lại kết quả hoặc kết quả không bền vững.
Đối với Việt Nam, tôi chỉ hy vọng mức sinh có thể giảm chậm hơn, nhưng chắc chắn chất lượng dân số sẽ tăng lên. Vì vậy chúng ta phải chuẩn bị từ giờ để thích ứng với xã hội có mức sinh thấp, già hóa nhanh.
Điều quan trọng là chúng ta phải nhìn nhận vấn đề mức sinh một cách thực tế. Không thể chỉ vận động người dân sinh con, mà cần tạo dựng một môi trường trong đó người trẻ có kiến thức, có điều kiện và có sự hỗ trợ cần thiết để thực hiện quyết định hôn nhân, sinh con và nuôi dạy con.
Khi truyền thông đi trước một bước, chính sách hỗ trợ được triển khai đồng bộ và những gia đình thực hiện tốt chính sách dân số được động viên kịp thời, việc khuyến khích sinh đủ hai con mới có cơ sở để đi vào cuộc sống.
- Xin trân trọng cảm ơn Giáo sư!
Bộ Y tế ban hành Thông tư mới về dân số
Ngày 8/9, Thứ trưởng Bộ Y tế PGS.TS Nguyễn Thị Liên Hương ký ban hành Thông tư 34/2026/TT-BYT, hướng dẫn thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I (2026-2030). Thông tư là cơ sở triển khai các hoạt động về chăm sóc sức khỏe, dân số, truyền thông, nâng cao chất lượng dân số và phát triển trong giai đoạn mới.