Ngân sách và mục tiêu bình đẳng giới: Từ khung pháp lý đến hiệu quả thực thi
Trên thực tế, tại Việt Nam, vấn đề bình đẳng giới đâu đó vẫn còn khoảng cách nhất định giữa chính sách và cuộc sống. Ảnh: Minh họa
Ngân sách Nhà nước không chỉ là những con số trên bảng tính, mà chính là thước đo thực tế nhất về sự công bằng. Một chính sách bình đẳng giới dù tiến bộ đến đâu cũng khó có thể thành công nếu không được đảm bảo bằng một nguồn lực tài chính tương xứng.
Vậy làm thế nào để nguồn lực công thực sự trở thành công cụ thúc đẩy bình đẳng giới, hỗ trợ phụ nữ trong phát triển kinh tế và nâng cao vị thế trong xã hội? Cuộc trao đổi với ThS. Vũ Thị Lưu Mai- Đại biểu Quốc hội Thành phố Hà nội, thành viên Uỷ ban Kinh tế, tài chính, Nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế, tài chính của Quốc hội sẽ góp thêm tiếng nói để hiện thực hoá các chú trương, các cam kết pháp luật thành những giá trị thực chất cho sự phát triển của phụ nữ.
- Thưa bà, bà đánh giá như thế nào về mối quan hệ giữa công cụ tài chính công và mục tiêu bình đẳng giới trong bối cảnh hiện nay?
ThS. Vũ Thị Lưu Mai: Ngân sách nhà nước không đơn thuần là công cụ tài chính, không chỉ là những con số được phân bổ trong các bảng biểu, mà là sự lựa chọn có chủ đích, là tuyên ngôn hành động của Nhà nước, là cách cụ thể hóa các giá trị hiến định, chuyển hóa chủ trương đúng đắn của Đảng thành những tác động thực chất.

ThS. Vũ Thị Lưu Mai- Đại biểu Quốc hội Thành phố Hà nội, thành viên Uỷ ban Kinh tế, tài chính, Nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế, tài chính của Quốc hội
Mỗi quyết định chi tiêu công đều mang một thông điệp chính sách; mỗi đồng ngân sách được chi ra, mỗi dự án đầu tư công được quyết định đều thể hiện sự lựa chọn phát triển, là thước đo phản ánh mức độ công bằng, nhân văn của một thể chế. Bình đẳng giới, vì vậy, không thể chỉ dừng lại ở tuyên ngôn về bình quyền, ở những cam kết hay ở các quy định mang tính nguyên tắc chung trong luật pháp. Bình đẳng giới chỉ thực sự trở thành hiện thực khi được "hiện thân" trong kết quả sử dụng các nguồn lực công - nơi quyền lực nhà nước được chuyển hóa thành hành động cụ thể.
Lồng ghép giới trong tài chính công, trong đó có đầu tư công là quá trình tích hợp có hệ thống các mục tiêu, nhu cầu và tác động giới vào toàn bộ chu trình chính sách, từ xây dựng chiến lược, lập kế hoạch, phân bổ nguồn lực, tổ chức thực hiện, giám sát đến đánh giá. Ngân sách có trách nhiệm giới không đồng nghĩa với việc "dành riêng ngân sách cho phụ nữ", mà nhằm: Bảo đảm phụ nữ và nam giới đều được hưởng lợi công bằng từ các chính sách đầu tư; khắc phục các bất lợi mang tính cấu trúc mà phụ nữ hoặc nam giới đang phải đối mặt; tối ưu hóa hiệu quả kinh tế - xã hội của đầu tư công.
Về phương pháp, không nên và không thể hình thành một mục chi ngân sách (một dòng ngân sách) riêng biệt cho bình đẳng giới trong cơ cấu chi ngân sách nhà nước tổng thể. Nhưng cũng không thể không có những nguồn lực cụ thể, nhiệm vụ cụ thể hướng tới mục tiêu bình đẳng giới vì nếu không có các khoản chi cụ thể thì khó có thể đạt được những kết quả cụ thể.
- Dưới góc độ lập pháp và giám sát, bà nhận định thế nào về khung pháp lý hiện hành của Việt Nam đối với vấn đề này?
ThS. Vũ Thị Lưu Mai: Việt Nam trong nhiều năm qua, dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng đã đạt được những thành tựu quan trọng trong thúc đẩy bình đẳng giới. Theo Báo cáo Bình đẳng Giới (Global Gender Gap Report 2023) về kết quả xếp hạng thì năm 2023 Việt Nam xếp thứ 72/146 quốc gia, tăng 11 bậc so với năm 2022. Hiện nay tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội cao nhất khu vực châu Á - Thái Bình Dương (30.26%).
Về khuôn khổ pháp luật, chúng ta đã có những cam kết, thông điệp mạnh mẽ và tương đối toàn diện về bình đẳng giới thông qua Hiến pháp, Luật Bình đẳng giới, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, Bộ luật Lao động, Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Hôn nhân và gia đình, các chiến lược quốc gia và nhiều điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên…
Đối chiếu với chuẩn mực quốc tế, đặc biệt là Công ước CEDAW, Tuyên bố Bắc Kinh 1995 và các cam kết trong SDGs cho thấy, pháp luật Việt Nam đã khá bao quát, dần tiệm cận chuẩn mực quốc tế về bình đẳng giới. Trong định hướng, quản lý ngân sách có pháp luật về ngân sách nhà nước (NSNN), pháp luật về đầu tư công, các Nghị quyết của Quốc hội về các Chương trình mục tiêu quốc gia, về Kế hoạch tài chính 5 năm quốc gia, Kế hoạch đầu tư công trung hạn, các Nghị quyết hàng năm về dự toán NSNN, phân bổ ngân sách trung ương (NSTW) và nhiều văn bản khác.
Tuy nhiên, một số quy định chưa tạo ra thay đổi mạnh mẽ, chưa hình thành được một cấu trúc pháp lý đủ mạnh để lồng ghép giới một cách thực chất. Trên thực tế, đâu đó vẫn còn khoảng cách nhất định giữa chính sách và cuộc sống. Khoảng cách ấy bắt nguồn từ cách thiết kế pháp luật, từ phương pháp phân bổ nguồn lực và trong cơ chế thực thi. Đây cũng là điều bình thường, khó tránh khỏi trong một tiến trình cải cách lớn.

Quản lý ngân sách có trách nhiệm giới sẽ khắc phục tình trạng bình đẳng giới thường được coi là vấn đề "xã hội" mà chưa gắn với chính sách tài chính, ngân sách. Ảnh: Minh họa
- Để chính sách thẩm thấu sâu hơn vào đời sống, theo Bà cần quan tâm đến những giải pháp gì?
Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới với khát vọng tăng trưởng nhanh, bền vững, trong bối cảnh thực hiện Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn mới, khi bình đẳng giới không còn là vấn đề riêng của phụ nữ, mà là chỉ số phản ánh tiến bộ xã hội thì rất cần đưa ra những giải pháp hữu hiệu để nguồn lực công trở thành công cụ thu hẹp khoảng cách giới, góp phần kiến tạo một xã hội tốt đẹp, nơi không ai bị bỏ lại phía sau.
Theo đó, đối với pháp luật về ngân sách nhà nước, cần thể hiện rõ hơn nguyên tắc lồng ghép, đánh giá tác động giới trong việc lập, phân bổ, chấp hành ngân sách, bảo đảm công bằng trong tiếp cận và thụ hưởng nguồn lực. Quản lý ngân sách có trách nhiệm giới sẽ khắc phục tình trạng bình đẳng giới thường được coi là vấn đề "xã hội" mà chưa gắn với chính sách tài chính, ngân sách. Đồng thời, cần tiếp tục đổi mới quy trình lập ngân sách, thực hiện tốt hơn phương thức lập ngân sách dựa trên kết quả đầu ra, trong đó các chỉ số về giới cần được quan tâm để đánh giá hiệu quả chi tiêu một cách thực chất.
Đối với các Nghị quyết về kinh tế - xã hội và đầu tư công, cần xác định bình đẳng giới là yêu cầu phát triển bền vững, là yếu tố nhân văn trong phân bổ nguồn lực. Theo đó, cần chú trọng lồng ghép giới trong xây dựng mục tiêu, chỉ tiêu và nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trung và dài hạn.
Xem xét việc xác lập cơ chế ưu tiên và bảo đảm tính ổn định nguồn lực cho các mục tiêu bình đẳng giới; khuyến khích huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực hợp pháp ngoài ngân sách. Các dự án có tác động tích cực đến việc nâng cao vị thế phụ nữ, cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ công thiết yếu cho phụ nữ… cần được xem xét ưu tiên trong quá trình phân bổ vốn.
Các chương trình mục tiêu quốc gia là công cụ chính sách quan trọng để giải quyết những mục tiêu phát triển trọng điểm, trong đó có mục tiêu bình đẳng giới. Tuy nhiên, lồng ghép giới trong một số chương trình chưa mang tính hệ thống, còn thiên về các hoạt động riêng lẻ, thiếu chỉ tiêu đầu ra. Một số chương trình vẫn coi giới là "phần việc bổ trợ", chưa đặt bình đẳng giới như một tiêu chí đánh giá hiệu quả tổng thể của chương trình.
Vì vậy, cần xác định bình đẳng giới như một mục tiêu mang tính hiện thực, có tính ràng buộc trong các nghị quyết về CTMTQG có liên quan. Việc xác định, đánh giá kết quả đầu ra của các CTMTQH cần rõ về định lượng, tránh định tính chung chung. Nên thể chế hóa cơ chế tham vấn và sự tham gia thực chất của phụ nữ và các nhóm yếu thế. Theo đó cần lấy ý kiến, phản biện chính sách từ các nhóm đối tượng thụ hưởng. Khi tiếng nói của phụ nữ được phản ánh đầy đủ thì chính sách sẽ khả thi và công bằng xã hội cao hơn.
Đối với mục tiêu bình đẳng giới, thống kê có vai trò đặc biệt quan trọng. Không có dữ liệu giới thì không có đầu tư trách nhiệm giới. Chỉ khi có dữ liệu đầy đủ, chính xác, được phân tách theo giới thì những hạn chế trong thực hiện mục tiêu bình đẳng giới mới được nhận diện khách quan. Vì vậy, cần mở rộng và cụ thể hóa các chỉ tiêu thống kê giới.
Bên cạnh các chỉ tiêu phân tách theo giới tính sinh học, cần bổ sung các chỉ tiêu phản ánh bình đẳng giới mang tính cấu trúc, như chênh lệch thu nhập, thời gian lao động không được trả công, mức độ tiếp cận dịch vụ xã hội. Cần nâng cao trách nhiệm pháp lý trong thu thập, công bố số liệu thống kê giới; lồng ghép thống kê giới trong xây dựng, đánh giá chính sách; tăng cường liên thông, chia sẻ, khai thác dữ liệu thống kê giới.
Về tổ chức thực hiện pháp luật, con người là yếu tố quan trọng, do vậy, cần chú trọng nâng cao năng lực thực hiện và nhận thức về bình đẳng giới trong bộ máy thực thi; có giải pháp đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về giới, kỹ năng lồng ghép giới để các quy định của pháp luật được triển khai hiệu quả, đồng bộ và bền vững.
Ở góc độ trách nhiệm, cần phát huy mạnh mẽ hơn nữa hoạt động giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân và các tổ chức xã hội trong việc phân bổ, sử dụng nguồn lực công. Không thể thiếu trách nhiệm của các doanh nghiệp trong việc thực hiện nguyên tắc không phân biệt đối xử, bảo đảm điều kiện lao động và tạo ra những cơ hội việc làm bền vững cho phụ nữ.

Cần xác định bình đẳng giới là yêu cầu phát triển bền vững, là yếu tố nhân văn trong phân bổ nguồn lực. Ảnh: Minh họa
- Bà có thông điệp gì gửi gắm về tương lai của bình đẳng giới tại Việt Nam?
ThS. Vũ Thị Lưu Mai: Bình đẳng giới không phải là một khẩu hiệu mang tính nhân văn đơn thuần, mà là thước đo công bằng xã hội, là cam kết chính trị của Nhà nước đối với mỗi công dân. Bình đẳng giới sẽ không tự đến, nhưng nhất định sẽ thành hiện thực nếu được dẫn dắt bằng pháp luật tiến bộ, bằng hiệu quả đầu tư ngân sách và một hệ thống thực thi có trách nhiệm.
Khi nhận diện đúng vấn đề, có giải pháp đúng, có những con người đủ tâm huyết thì chúng ta tin rằng những điểm nghẽn hôm nay có thể sẽ trở thành điểm tựa cho đổi mới và thành công trên con đường hướng tới một xã hội công bằng, bao trùm, thịnh vượng cho tất cả.
Xin trân trọng cảm ơn bà!