Phụ nữ khởi nghiệp xanh tại ĐBSCL: Sức mạnh "thuận thiên" gắn liền công nghệ số và ESG
Chị Tuyết Nhung, người điều hành Cacao Mekong với xu hướng xanh - số thành công. Ảnh: NVCC
Chuyên gia cho rằng, phụ nữ khởi nghiệp xanh gắn với thuận thiên không phải là làm những điều lớn lao mà nên dựa vào điều kiện có sẵn, tài nguyên tự nhiên bản địa, đồng thời sử dụng công nghệ đúng chỗ để nâng hiệu quả và mở rộng thị trường.
Làn sóng khởi nghiệp xanh, thuận thiên tại Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đang chứng kiến sự trỗi dậy mạnh mẽ của các "bóng hồng" miền Tây qua việc tiên phong đưa công nghệ số và bộ tiêu chuẩn ESG (Môi trường - Xã hội - Quản trị) vào tài nguyên bản địa.
Để giải mã bài toán giúp các mô hình kinh doanh do phụ nữ làm chủ, dù ở quy mô nhỏ hay siêu nhỏ đều có thể thực hành "chuyển đổi kép" một cách vừa sức và hiệu quả. Phóng viên Báo Phụ nữ Việt Nam đã có cuộc trao đổi với Thạc sĩ Nguyễn Hữu Thiện, Chuyên gia nghiên cứu độc lập về sinh thái, biến đổi khí hậu và phát triển bền vững tại ĐBSCL.
PV: Thưa ông, trong bối cảnh ĐBSCL đang chịu tác động nặng nề của biến đổi khí hậu, ông đánh giá như thế nào về tiềm năng và lợi thế riêng của phụ nữ khi khởi nghiệp gắn với kinh tế xanh và chuyển đổi xanh?
Thạc sĩ Nguyễn Hữu Thiện: Theo tôi, chuyển đổi xanh tại ĐBSCL lúc này là chuyển sang tư duy "thuận thiên" – sống chung và tôn trọng quy luật tự nhiên theo tinh thần Nghị quyết 120/NQ-CP.
Ở góc độ này, phụ nữ có một lợi thế là gắn bó rất gần với gia đình, ruộng đồng, nguồn nước và đời sống địa phương. Họ thường nhận ra khá sớm những thay đổi của môi trường và nhu cầu của cộng đồng, từ đó tìm những cách làm ăn phù hợp hơn với điều kiện tự nhiên.
Một lợi thế nữa của phụ nữ là sự tinh tế, khả năng biến những sản vật quen thuộc của địa phương thành sản phẩm có giá trị cao hơn. Từ cọng sen, trái dừa, hạt lúa thơm đến con tôm sạch, nếu biết làm tốt từ sản xuất, chế biến đến xây dựng thương hiệu thì tài nguyên bản địa có thể tạo ra sinh kế bền vững mà không phải khai thác thiên nhiên quá mức.

Thạc sĩ, chuyên gia "thuận thiên" Nguyễn Hữu Thiện tại Hội thảo tham vấn Quy hoạch vùng ĐBSCL thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Ảnh: NVCC
PV: Yêu cầu về "chuyển đổi kép" (vừa chuyển đổi số, vừa chuyển đổi xanh) đang đặt ra cơ hội gì, và đâu là điểm nghẽn lớn nhất mà các nữ doanh nghiệp khởi nghiệp tại vùng thường gặp phải?
Thạc sĩ Nguyễn Hữu Thiện: "Chuyển đổi kép" mở ra cơ hội rất lớn vì công nghệ số giúp các cơ sở nhỏ vượt qua giới hạn về địa lý. Một sản phẩm ở miền Tây bây giờ có thể giới thiệu và bán trực tiếp cho khách hàng ở các thành phố hoặc thị trường xa hơn, đồng thời có thể cung cấp thông tin về nguồn gốc sản phẩm.
Nhưng điểm nghẽn lớn nhất vẫn là nguồn lực. Nhiều chị em làm kinh doanh quy mô gia đình hoặc quản lý HTX nhỏ, vừa thiếu vốn vừa thiếu chuyên môn về công nghệ. Nếu cùng lúc phải đầu tư cho cả công nghệ số lẫn các giải pháp xanh thì rất dễ quá sức.
Vì vậy, theo tôi, không nên chạy theo công nghệ mà phải chọn công nghệ phù hợp với quy mô và khả năng của mình.
PV: Theo ông, công nghệ xanh và chuyển đổi số nên được các startup do phụ nữ làm chủ ứng dụng từ khâu nào (sản xuất, quản trị, hay tiếp thị) để tối ưu chi phí mà vẫn tạo ra tác động thực tế?
Thạc sĩ Nguyễn Hữu Thiện: Với các mô hình nhỏ và vừa, tôi nghĩ nên đi từng bước, bắt đầu từ những khâu đem lại hiệu quả rõ nhất.
Trước hết có thể bắt đầu từ tiếp thị, bán hàng. Mạng xã hội, thương mại điện tử giúp sản phẩm đi xa hơn mà không cần đầu tư quá lớn. Sau đó mới đưa công nghệ vào sản xuất, chẳng hạn các thiết bị đơn giản để theo dõi độ mặn, độ ẩm, từ đó sử dụng tài nguyên tiết kiệm hơn. Khi hoạt động đã ổn định và có dòng tiền thì mới tiếp tục số hóa quản trị, kế toán và các khâu phía sau. Nói đơn giản là làm cái gì cần trước, cái gì chưa cần thì chưa vội đầu tư.
PV: Nhiều dự án khởi nghiệp của phụ nữ quy mô còn nhỏ và siêu nhỏ. Làm thế nào để họ tiếp cận được các giải pháp công nghệ hoặc mô hình tuần hoàn (như tận dụng phụ phẩm nông nghiệp) mà không rơi vào trạng thái "đầu tư quá tầm"?
Thạc sĩ Nguyễn Hữu Thiện: Kinh tế tuần hoàn không nhất thiết phải bắt đầu bằng những dây chuyền lớn và máy móc đắt tiền. Nhiều khi chỉ cần nhìn lại những thứ mình đang bỏ đi và tìm cách sử dụng chúng tốt hơn.
Ở địa phương, có thể hình thành những liên kết nhỏ: phụ phẩm của cơ sở này trở thành nguyên liệu cho cơ sở khác, rơm rạ hoặc phụ phẩm nông nghiệp được tận dụng để làm phân hữu cơ, nấm hoặc những sản phẩm phù hợp khác. Quan trọng là liên kết với nhau. Một hộ nhỏ rất khó đầu tư tất cả, nhưng nhiều hộ hoặc HTX cùng chia sẻ máy móc, nguyên liệu, vận chuyển và đầu ra thì sẽ giảm được chi phí.
Công nghệ số cũng vậy, nên ưu tiên những công cụ đơn giản, trả chi phí theo nhu cầu, thay vì mua những hệ thống lớn nhưng không sử dụng hết.
PV: ESG thường được nhìn nhận là câu chuyện của các tập đoàn lớn. Theo ông, một doanh nghiệp khởi nghiệp hoặc hộ kinh doanh/HTX do phụ nữ làm chủ tại ĐBSCL nên bắt đầu thực hành các tiêu chuẩn ESG từ đâu cho vừa sức?
Thạc sĩ Nguyễn Hữu Thiện: ESG nghe có vẻ lớn, nhưng những việc căn bản lại rất gần với cách làm ăn hằng ngày.
E – Môi trường: giảm rác thải, sử dụng tiết kiệm nước và nguyên liệu, hạn chế những thứ gây ô nhiễm đất và nguồn nước.
S – Xã hội: tạo việc làm cho người địa phương quanh mình, đối xử công bằng, đảm bảo điều kiện làm việc phù hợp.
G – Quản trị: ghi chép rõ ràng, minh bạch về nguồn gốc và chất lượng sản phẩm, nói đúng những gì mình làm được.
Doanh nghiệp nhỏ chưa cần phải làm những báo cáo ESG phức tạp. Làm tốt những việc căn bản này trước đã là một nền tảng tốt.

Thạc sĩ, chuyên gia "thuận thiên" Nguyễn Hữu Thiện trong giờ giảng dạy cho sinh viên
PV: Yếu tố "S" (Xã hội) trong ESG vốn là thế mạnh tự nhiên của các mô hình kinh doanh do phụ nữ dẫn dắt. Làm thế nào để họ kết hợp tốt yếu tố này với "E" (Môi trường) và "G" (Quản trị minh bạch) để nâng tầm giá trị sản phẩm?
Thạc sĩ Nguyễn Hữu Thiện: Ba yếu tố E, S và G nên đi cùng nhau. Ví dụ, một cơ sở tạo việc làm cho phụ nữ địa phương là tạo ra giá trị xã hội. Nhưng nếu đồng thời hướng dẫn người lao động sản xuất theo cách ít gây tổn hại đến đất và nước thì giá trị đó còn lớn hơn. Sau đó phải chứng minh những điều mình nói là có thật. Đó là vai trò của quản trị minh bạch.
Có thể sử dụng mã QR để cung cấp thông tin về nguồn gốc sản phẩm, vùng nguyên liệu và quy trình sản xuất. Khi người tiêu dùng có thể kiểm tra được sản phẩm đến từ đâu và được làm như thế nào thì niềm tin sẽ tăng lên.
PV: Ông có đề xuất gì đối với các cấp Hội LHPN hoặc chính quyền địa phương trong việc thiết kế các chính sách, nguồn vốn hay chương trình huấn luyện thực chất hơn cho phụ nữ khởi nghiệp xanh?
Thạc sĩ Nguyễn Hữu Thiện: Tôi nghĩ có 3 việc cần làm.
Thứ nhất, đào tạo phải thực tế hơn. Thay vì chỉ tổ chức những lớp lý thuyết chung về chuyển đổi xanh hay chuyển đổi số, nên hướng dẫn trực tiếp những việc chị em cần làm, như bán hàng trên mạng, quản lý chi phí, truy xuất nguồn gốc, sử dụng công cụ số đơn giản hay tận dụng phụ phẩm.
Thứ hai, nguồn vốn phải phù hợp với quy mô nhỏ. Nhiều mô hình chỉ cần một khoản vốn vừa phải để cải tiến sản xuất, bao bì, thiết bị hoặc kho chứa. Nếu thủ tục quá phức tạp thì người cần vốn lại khó tiếp cận.
Thứ ba, tăng cường liên kết. Có thể kết nối các hộ, HTX và doanh nghiệp nhỏ để cùng sử dụng một số cơ sở hạ tầng, chia sẻ chi phí vận chuyển, tìm đầu ra và hỗ trợ nhau về kỹ thuật.
Khởi nghiệp xanh gắn với thuận thiên không phải là làm những điều thật lớn ngay từ đầu. Quan trọng là làm ăn dựa trên những gì địa phương có, biết giữ gìn đất, nước và tài nguyên tự nhiên, đồng thời sử dụng công nghệ đúng chỗ để nâng hiệu quả và mở rộng thị trường.
PV: Xin trân trọng cảm ơn ông về cuộc trò chuyện này!