Xem thêm thông tin của Báo PNVN trên
Phụ nữ Việt Nam
MỚI NHẤT ĐỘC QUYỀN MULTIMEDIA CHUYÊN ĐỀ
31/05/2026 - 23:07 (GMT+7)

Phụ nữ Việt Nam thời chiến vững niềm tin - thời bình xây khát vọng - Bài 1: Vững niềm tin theo Đảng

Phạm Thị Hoài Thương
Phụ nữ Việt Nam thời chiến vững niềm tin - thời bình xây khát vọng - Bài 1: Vững niềm tin theo Đảng

Cô Nguyễn Thị Nhung (giữa), nguyên Trưởng Ban Dân vận Tỉnh ủy, nguyên Chủ tịch Hội LHPN tỉnh Bình Dương (cũ), tặng sách cho Sư đoàn 5 (Quân khu 7).

Trong thời đại Hồ Chí Minh, dù ở hoàn cảnh nào, nền tảng tư tưởng của Đảng luôn khẳng định giá trị dẫn đường, truyền cảm hứng và quy tụ sức mạnh toàn dân tộc. Trong đó, những thành tựu và đóng góp của các thế hệ phụ nữ Việt Nam là minh chứng sinh động và mang ý nghĩa thực tiễn của nền tảng tư tưởng ấy.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta đã "Rũ bùn đứng dậy sáng lòa!"[1], "chắn ngang" mọi âm mưu phá hoại và chiến thắng những kẻ thù hung bạo nhất. Hành trình từ khói bom thời chiến đến hòa bình hôm nay đã chứng minh một chân lý: Giữ vững lý tưởng và niềm tin tuyệt đối vào Đảng là gốc rễ để bảo vệ, xây dựng Tổ quốc. Lý tưởng ấy không nằm trên trang giấy, mà đã thấm sâu vào máu thịt, chuyển hóa thành hành động của toàn dân, mà trong đó phụ nữ là một nửa không thể tách rời. 

Đất nước đang bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, việc kiên định và vận dụng sáng tạo nền tảng tư tưởng của Đảng không còn là những khái niệm lý luận trừu tượng mà đang được viết tiếp một cách sinh động. Trong thời chiến, những người mẹ, người chị đã xông pha bước vào lửa đạn thì hôm nay, những bóng hồng đầy bản lĩnh, tự tin bước vào "cuộc chiến mới" của thời đại số. 

Là một cây bút trẻ của nền báo chí Cách mạng Việt Nam, tôi may mắn có nhiều cơ hội được gặp gỡ, tiếp xúc và lắng nghe những câu chuyện đầy xúc động của các "bông hồng thép" thời chiến. Đó là các Mẹ Việt Nam Anh hùng, những nữ cựu tù chính trị, nữ biệt động Sài Gòn, các nhà giáo đi B[2], những lão thành cách mạng... Mỗi người là một trang sử sống, mang trong mình ký ức của những năm tháng "nếm mật nằm gai", kiên cường vượt qua biết bao gian khổ, hy sinh.

Trong những câu chuyện các cô, các dì kể lại, có những thời khắc sinh tử khi dao kề cổ, súng dí đầu nhưng không một ai khuất phục hay đầu hàng trước kẻ thù. Họ cũng từng là những cô gái tuổi mười tám, đôi mươi, rời mái nhà thân yêu để xung phong vào chiến trường, đến những vùng đất bom đạn để dạy học, làm công tác cách mạng. Họ có thể sợ những con vắt rừng, những con sâu róm, nhưng chưa bao giờ run sợ trước quân thù. Qua những tấm gương và những câu chuyện ấy, thế hệ trẻ chúng tôi hôm nay càng thấu hiểu rằng chính niềm tin son sắt vào Đảng, vào Bác Hồ đã trở thành nguồn sức mạnh tinh thần vô giá, là "vũ khí" giúp các cô, các dì vượt qua mọi thử thách, chiến thắng mọi gian nguy.

Những người phụ nữ đi qua lửa đạn

Trong chương trình Họp mặt truyền thống Cơ quan Hội Phụ nữ giải phóng Khu Đông Nam bộ lần thứ 26 - năm 2026 tại Tây Ninh, cô Nguyễn Thị Nhung, nguyên Trưởng Ban Dân vận Tỉnh ủy, nguyên Chủ tịch Hội LHPN tỉnh Bình Dương (cũ), đã kể về lần trực tiếp tham gia " mổ sống" để cứu đồng đội khiến cả hội trường hôm đó đều lặng đi. Đó là một lần đơn vị bất ngờ bị địch tấn công, các thương binh phải được khẩn trương đưa vào cơ sở dân y điều trị. Khi đó, bản thân cô đang bị sốt rét nhưng phải cố gắng cùng một chị đồng đội đang mang thai, cả hai cùng cáng một anh thương binh đi đến trạm để điều trị. Vì thiếu người hỗ trợ nên chính cô cũng tham gia tất cả các khâu, đó là lúc cô chứng kiến cảnh mổ bụng để gắp đạn ra khỏi bụng cho đồng đội. Trong điều kiện thiếu thốn đến nghiệt ngã của chiến tranh, những ca mổ gắp đạn, những quyết định "mổ sống" để giữ mạng sống cho đồng đội dưới ánh đèn pin tù mù được thực hiện bằng cả nước mắt và một ý chí sắt đá.

Phụ nữ Việt Nam thời chiến vững niềm tin - thời bình xây khát vọng - Bài 1: Vững niềm tin theo Đảng- Ảnh 1.

Cô Nguyễn Thị Nhung, nguyên Trưởng Ban Dân vận Tỉnh ủy, nguyên Chủ tịch Hội LHPN tỉnh Bình Dương (cũ)

Kết lại những câu chuyện kể về thời chiến, cô Nhung đã nói với thế hệ trẻ tham dự hôm ấy rằng: "Khi bước vào chiến trường, tôi tự ý thức được mình là người ít học, hiểu biết chẳng được bao nhiêu. Nhưng nhờ sống và chiến đấu trong môi trường gian khổ, khốc liệt đó, Đảng giao phó việc gì tôi cũng quyết tâm hoàn thành, mong góp một phần sức nhỏ bé vào sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Tôi thấy các cháu bây giờ giỏi giang hơn thế hệ trước rất nhiều. Các cháu có đầy đủ điều kiện để học tập, nghiên cứu, thực hành. Có nền tảng tốt như vậy, tôi chỉ mong các cháu sẽ dùng trí tuệ và hiểu biết của mình để đóng góp những điều có ích nhất cho xã hội. Hãy cùng nhau đưa đất nước phát triển, giữ vững nền độc lập, tự do và đưa Việt Nam tiến xa hơn nữa".

Những lời nói giản dị của cô Nhung không chỉ là lời nhắn nhủ giản dị mà còn chứa đựng nhiều giá trị sâu sắc về lý tưởng sống và tinh thần cống hiến cho đất nước. Trong điều kiện vô cùng khó khăn, thiếu thốn về tri thức và vật chất nhưng cô vẫn kiên định niềm tin theo Đảng, sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao.

Nhớ lại không khí hào hùng dịp kỷ niệm 30/4 năm ngoái, tôi có buổi đến gặp cô Nguyễn Thị Yến Thu, nguyên Phó Giám đốc Sở Giáo dục - Đào tạo TPHCM, Chủ tịch Hội Cựu giáo chức TPHCM, tại văn phòng Hội Cựu giáo chức TPHCM. Ở tuổi 85 nhưng cô Yến Thu vẫn tiếp tục làm việc không lương trong vai trò Chủ tịch Hội Cựu giáo chức TPHCM. Cô là đại diện tiêu biểu cho thế hệ phụ nữ giàu nghị lực, là tấm gương sáng cho thế hệ trẻ hôm nay.

Cô Yến Thu là một trong những học sinh miền Nam được điều động ra Bắc học tập. Đến năm 1965, cô đăng ký đi B trở lại miền Nam để góp sức vào sự nghiệp trồng người. Hành trình đi bộ vượt Trường Sơn từ Bắc vào Nam là ký ức không phai mờ trong tâm trí cô. Trong hành trình 4 tháng đi bộ đó, cô nhớ mãi về "nương sắn cách mạng". "Nương sắn cách mạng" là cụm từ sau ngày giải phóng không còn dùng nữa nhưng thời chống Mỹ cụm từ này chỉ sự đóng góp không nhỏ của đồng bào dân tộc thiểu số tại Tây Nguyên, miền Trung, trồng ra những đồi sắn giữa rừng để bộ đội ta đi qua có lương thực mà ăn. Đây là chủ trương sáng suốt của cách mạng Việt Nam, lãnh đạo địa phương miền Trung, Tây Nguyên phát động.

Phụ nữ Việt Nam thời chiến vững niềm tin - thời bình xây khát vọng - Bài 1: Vững niềm tin theo Đảng- Ảnh 2.

Cô Nguyễn Thị Yến Thu, nguyên Phó Giám đốc Sở Giáo dục - Đào tạo TPHCM.

Cô Yên Thu kể: "Nương sắn cách mạng" là khu rừng rất lớn. Sắn chen trong cây rừng khắp nơi đều có sắn. Chúng tôi dùng tay nhổ sắn, sắn lâu năm, cây thật to, củ thật lớn nhưng nhổ rất dễ. Chỉ nhổ chừng chưa đến nửa giờ ai cũng có hơn hai chục ký. Dù luật không thành văn bản nhưng ai đến "Nương sắn cách mạng" nhổ sắn đều chặt đủ mỗi bụi mười hom, đào lỗ trồng lại nghiêm túc, để duy trì nương sắn cho các đoàn khác đến ăn. Tối đó cả đoàn ăn sắn. Sắn giữa rừng Trường Sơn ngon thật là ngon. Thôi thì mạnh ai nấy chế biến sắn theo sở thích, thành đủ loại thức ăn. Sắn luộc, sắn nướng, sắn ghế cơm, canh sắn. Cao cấp nhất là sắn mài ra làm bánh…Thiếu kinh nghiệm chúng tôi toàn nhổ cây sắn to, củ to. Sau này một phần không ít anh chị em bị ngộ độc sắn, ăn nhiều quá bị nôn ói, không tiêu".

Bản thân cô Yến Thu ngày đó vì quá đói mà ăn rất nhiều sắn và cũng bị ngộ độc rất nặng phải ở lại trong một trạm giữa rừng để chữa trị và đi theo sau. "Từ lần đó tới già, tôi chả thèm ăn sắn nữa", cô Thu dí dỏm nhắc lại.

"Ngày ấy chúng tôi còn rất trẻ, hầu hết mới trên hai mươi, một số tốt nghiệp đại học mới ra trường đã tình nguyện vào Nam công tác. Bắc có, Nam có, Nam nhiều hơn Bắc nhưng chúng tôi đoàn kết, thương yêu nhau hết lòng, cùng một lý tưởng theo Đảng, cùng nhân dân miền Nam chống Mỹ cứu nước. Rời ghế nhà trường, khoát ba lô vượt Trường Sơn lòng trong sáng, không suy tính thiệt hơn, không sợ hy sinh, gian khổ", cô Thu cho hay.

Ngày đất nước giải phóng, cô Yến Thu tiếp tục sự nghiệp trồng người bằng những lần lội bộ trong nước triều cường để kiểm tra các lớp xóa mù chữ, kiên trì chèo lái con thuyền giáo dục vượt qua thời bao cấp nghèo khó trên chiếc xe đạp cọc cạch, cô Yến Thu đã chứng minh: Bảo vệ Đảng chính là bảo vệ thành quả cách mạng, xây nền móng dân trí cho nhân dân.

Tái thiết quê hương

Kiên định với tư tưởng của Đảng còn là việc dám đứng lên đấu tranh vì lẽ phải và công lý, dùng tri thức để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của nhân dân trên trường quốc tế. GS.BS Nguyễn Thị Ngọc Phượng, nguyên Giám đốc Bệnh viện Từ Dũ, chính là biểu tượng cho tinh thần ấy.

Bà từ chối cuộc sống nhung lụa theo chồng qua Pháp để ở lại quê hương ăn bo bo cùng đồng nghiệp cứu chữa sản phụ những ngày đầu giải phóng, bà đã dành nửa thế kỷ để chứng minh mối liên hệ giữa chất độc da cam và dị tật bẩm sinh. Bà là người phụ nữ Việt Nam đầu tiên được mời đến Hạ viện Mỹ để trình bày về tác động của chất độc da cam/dioxin lên con người, tạo một "cú tát" trực diện vào những né tránh trách nhiệm của các thế lực thù địch.

Phụ nữ Việt Nam thời chiến vững niềm tin - thời bình xây khát vọng - Bài 1: Vững niềm tin theo Đảng- Ảnh 3.

GS.BS Nguyễn Thị Ngọc Phượng, nguyên Giám đốc Bệnh viện Từ Dũ. Ảnh: NVCC

Không chỉ vậy, bác sĩ Phượng còn là người đặt nền móng cho kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm tại Việt Nam, mang lại hy vọng làm cha mẹ cho hàng ngàn cặp vợ chồng hiếm muộn - được mệnh danh là "bà tiên" của những gia đình mong con. Năm 2024, khi tròn 80 tuổi, bác sĩ Nguyễn Thị Ngọc Phượng là một trong năm cá nhân được Quỹ Giải thưởng Ramon Magsaysay - giải thưởng được mệnh danh là "Nobel châu Á" - vinh danh vì những cống hiến không mệt mỏi.

3 chân dung phụ nữ trên chỉ là minh chứng rất nhỏ từ thực tế tác nghiệp của một phóng viên trẻ như tôi. Còn rất nhiều thế hệ phụ nữ Việt Nam kiên cường, bất khuất, một lòng đi theo Đảng và cống hiến cho sự nghiệp cách mạng. Các cô, các dì không chỉ là những người trực tiếp tham gia đấu tranh, bảo vệ thành quả cách mạng và lý tưởng của Đảng, mà còn là những tấm gương sống động truyền cảm hứng cho thế hệ trẻ hôm nay. Họ là những người giữ lửa và truyền lửa, định hình cho thế hệ trẻ hôm nay nhận thức sâu sắc hơn về sứ mệnh bảo vệ Đảng, bảo vệ đất nước theo cách riêng của mỗi người.


[1] Trích bài thơ "Đất nước" của nhà thơ Nguyễn Đình Thi.

[2] Nhà giáo đi B là những giáo viên được huy động từ miền Bắc vào Nam chiến đấu và công tác. Giai đoạn từ năm 1961 đến năm 1973, đã có 10 chuyến đi B với hơn 2.700 thầy cô giáo rời bục giảng các trường phổ thông và đại học ở Hà Nội và các tỉnh, thành phố miền Bắc vượt Trường Sơn vào miền Nam.

Ý kiến của bạn
Bình luận
Xem thêm bình luận