Xem thêm thông tin của Báo PNVN trên
Phụ nữ Việt Nam
MỚI NHẤT ĐỘC QUYỀN MULTIMEDIA CHUYÊN ĐỀ

Sửa Luật An toàn, vệ sinh lao động - Bài 1: Tăng quyền lợi, đã đủ bù đắp?

Quang Chiến
Sửa Luật An toàn, vệ sinh lao động - Bài 1: Tăng quyền lợi, đã đủ bù đắp?

Ảnh minh họa

Dự án Luật sửa đổi Luật An toàn, vệ sinh lao động đề xuất nâng mức hưởng đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Nhưng mức hưởng tăng có thực sự đáp ứng những tổn thất về sức khỏe, thu nhập và khả năng làm việc lâu dài của người lao động?

Đổi căn cứ tính, tăng mức hưởng

Ngày 17/9/2026, Chính phủ thông qua dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật An toàn, vệ sinh lao động. Một trong những nội dung đáng chú ý là đề xuất thay căn cứ "lương cơ sở" bằng "mức lương tối thiểu vùng" để tính một số chế độ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Theo cơ quan soạn thảo, thay đổi này có thể làm mức hưởng tăng khoảng 50% so với hiện hành.

Dự thảo đồng thời đề xuất đưa người đang hưởng chế độ hưu trí nhưng tiếp tục làm việc theo hợp đồng từ đủ 1 tháng trở lên vào diện tham gia bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp bắt buộc.

Nhưng mức hưởng cao hơn cần được nhìn cùng một câu hỏi: căn cứ xác định thiệt hại có theo kịp những gì người lao động thực sự mất đi sau tai nạn hay không?

Theo Luật An toàn, vệ sinh lao động hiện hành, người bị suy giảm từ 5% đến 30% khả năng lao động được hưởng trợ cấp một lần; từ 31% trở lên được hưởng trợ cấp hằng tháng. Phần trợ cấp cơ bản được tính theo mức lương cơ sở, bên cạnh khoản tính theo thời gian đóng Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.

Việc thay căn cứ "lương cơ sở" bằng "mức lương tối thiểu vùng" vì thế trước hết tác động đến số tiền người lao động được hưởng. Song, tăng khoản tiền chi trả chưa đồng nghĩa cách xác định tổn thất đã sát hơn với từng trường hợp.

Bởi hậu quả của tai nạn không giống nhau ở mọi người. Một người suy giảm 30% khả năng lao động có thể vẫn làm công việc cũ; người khác với cùng tỷ lệ suy giảm có thể phải chuyển việc, giảm thu nhập hoặc mất nghề. Cùng một tỷ lệ suy giảm về mặt y khoa không đồng nghĩa tạo ra cùng một mức mất mát về kinh tế.

Tỷ lệ suy giảm khả năng lao động là căn cứ cần thiết để giải quyết chế độ, nhưng không phải lúc nào cũng phản ánh đầy đủ mức mất thu nhập, mất nghề hay mất cơ hội việc làm. Với người làm công việc nặng, một thương tật nhất định có thể khiến họ không còn khả năng tiếp tục nghề; trong khi ở công việc khác, cùng mức suy giảm ấy vẫn có thể duy trì việc làm.

Khoảng cách này đã được phản ánh trong hồ sơ xây dựng chính sách. Hồ sơ đánh giá một số chế độ, điều kiện hưởng và mức hưởng hiện hành còn hạn chế, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người lao động phục hồi khả năng lao động, ổn định đời sống và tái hòa nhập thị trường lao động.

Như vậy, điều đáng bàn không chỉ là mức hưởng sẽ tăng bao nhiêu, mà phần tăng thêm đang bù đắp cho khoản thiệt hại nào và còn những tổn thất nào chưa được phản ánh đầy đủ trong cách tính.

Thiệt hại thực tế, mức bù đắp tương xứng?

Thực tế tai nạn lao động cho thấy hậu quả đối với người lao động và gia đình có thể kéo dài rất lâu sau khi vụ việc xảy ra.

Ngày 15/9/2026, anh Hoàng Văn Tú, sinh năm 1991, công nhân của Công ty Than Nam Mẫu - TKV, tử vong trong ca làm việc tại khu vực Lò chợ I-6A-19, Phân xưởng Khai thác 11.

Với gia đình một công nhân đang trong tuổi lao động, hậu quả không chỉ là mất đi một người thân mà còn là mất nguồn thu nhập lẽ ra có thể tiếp tục được tạo ra trong nhiều năm.

Nếu trường hợp tử vong đặt ra vấn đề về mất nguồn thu nhập trong tương lai, những trường hợp sống sót sau tai nạn lại cho thấy một dạng tổn thất khác.

Anh Trần Thế Tâm, trú tại phường Trúc Lâm, tỉnh Thanh Hóa, bị tai nạn lao động, liệt nửa người, suy giảm 76% khả năng lao động. Tranh chấp bồi thường, hỗ trợ giữa anh Tâm và Công ty CP Xi măng Đại Dương đã trải qua nhiều lần xét xử. Ngày 18/9/2026, vụ án được đưa ra xét xử phúc thẩm theo kháng cáo của doanh nghiệp.

Ở lần xét xử sơ thẩm lại ngày 10/7/2026, doanh nghiệp bị buộc bồi thường hơn 1,404 tỷ đồng, cùng khoản trợ cấp hằng tháng 2,837 triệu đồng. Các khoản bồi thường gồm chi phí y tế, người chăm sóc, thuê xe, tiền lương trong thời gian điều trị và các khoản trợ cấp liên quan.

Con số hơn 1,4 tỷ đồng cho thấy thiệt hại thực tế của một vụ tai nạn có thể gồm nhiều khoản. Nhưng với thương tật 76%, người lao động vẫn phải đối mặt với suy giảm khả năng làm việc, giảm khả năng tạo thu nhập và nhu cầu chăm sóc lâu dài.

Sửa Luật An toàn, vệ sinh lao động - Bài 1: Tăng quyền lợi, đã đủ bù đắp? - Ảnh 1.

Anh Trần Thế Tâm được người nhà đưa đến dự phiên tòa. Ảnh: Cưởng Thúy

Cần phân biệt khoản hưởng từ Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp với trách nhiệm bồi thường, trợ cấp của người sử dụng lao động. Doanh nghiệp còn có trách nhiệm thanh toán các khoản chi phí theo luật định, trả tiền lương trong thời gian điều trị, bồi thường hoặc trợ cấp tùy trường hợp và bố trí công việc phù hợp sau điều trị.

Vì vậy, khoản hưởng từ Quỹ bảo hiểm tăng lên không phải là toàn bộ phần bù đắp cho thiệt hại mà người lao động phải chịu.

Từ góc độ an sinh, TS. Nhạc Phan Linh, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách Mặt trận, cho rằng khi người lao động gặp rủi ro, họ có thể mất hoặc giảm thu nhập, đồng thời phát sinh thêm chi phí điều trị. Theo ông, bảo hiểm cần trở thành điểm tựa an sinh khi rủi ro xảy ra.

Ở góc độ sức khỏe nghề nghiệp, GS.TS Lê Vân Trình, Chủ tịch Hội Khoa học kỹ thuật An toàn vệ sinh lao động, nhấn mạnh mối liên hệ giữa thời giờ làm việc, sức khỏe và khả năng duy trì sức lao động. Ông cho rằng kéo dài thời gian làm việc có thể làm suy giảm sức khỏe và gia tăng nguy cơ tai nạn.

Những góc nhìn này cho thấy tổn thất của người lao động không chỉ nằm ở một khoản trợ cấp được tính theo tỷ lệ suy giảm khả năng lao động.

Thực tế, người lao động sau tai nạn có thể trở lại công việc cũ, nhưng cũng có thể phải chuyển nghề hoặc không còn khả năng làm công việc đã gắn bó nhiều năm. Với những nghề phụ thuộc nhiều vào thể lực, một thương tật nhất định có thể làm thay đổi hoàn toàn khả năng kiếm sống.

Pháp luật hiện hành có cơ chế hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp khi trở lại làm việc. Tuy nhiên, mức hỗ trợ học phí được giới hạn không quá 50% học phí và không quá 15 lần mức lương cơ sở, tối đa hai lần đối với mỗi người lao động.

Một người không thể trở lại nghề cũ có thể cần học nghề mới, thời gian phục hồi và cơ hội việc làm phù hợp. Những yếu tố này không thể hiện đầy đủ trong tỷ lệ suy giảm khả năng lao động.

Đặt thực tế đó cạnh đề xuất thay căn cứ tính từ lương cơ sở sang lương tối thiểu vùng, vấn đề không chỉ nằm ở việc nâng mức trợ cấp, mà còn ở khả năng hỗ trợ người lao động phục hồi, duy trì thu nhập và trở lại thị trường lao động sau tai nạn.

Khoản hưởng có thể tăng, nhưng để mức bù đắp thực sự tương xứng, cách tính cũng cần phản ánh sát hơn những tổn thất về nghề nghiệp, thu nhập và khả năng phục hồi của người lao động.

Ý kiến của bạn
Bình luận