Tái tạo "vòng 1" giúp người bệnh ung thư vú trở lại nhịp sống thường ngày
Ê-kíp bác sĩ thực hiện ca phẫu thuật tái tạo vú
Việc tái tạo vú giúp duy trì hình thể cân đối và hỗ trợ người bệnh trở lại nhịp sống thường ngày. Theo bác sĩ, các bằng chứng y khoa hiện nay cho thấy tái tạo vú không tăng nguy cơ tái phát và ảnh hưởng tỉ lệ sống của người bệnh.
Ung thư vú là một trong những bệnh ung thư thường gặp và có tỷ lệ tử vong cao. Theo GLOBOCAN 2022, Việt Nam ghi nhận 24.563 ca mắc mới, đứng đầu trong các loại ung thư ở nữ giới, chiếm 28,9%; số ca tử vong là 10.008. Đáng chú ý, so với nhiều quốc gia khác, tỷ lệ mắc bệnh ở người trẻ tại Việt Nam đang có xu hướng gia tăng.
Bên cạnh việc chẩn đoán sớm, điều trị ung thư vú tại Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể. Các kỹ thuật xạ trị hiện đại giúp giảm biến chứng; trong khi phẫu thuật tạo hình, tái tạo vú không chỉ phục hồi hình thể mà còn mang lại sự tự tin, ổn định tâm lý cho phụ nữ sau điều trị.
ThS.BS Nguyễn Sỹ Cam, Khoa Tuyến vú - Bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM cho biết, vừa qua bệnh viện tiếp nhận nữ bệnh nhân 23 tuổi đến khám khi phát hiện khối u khoảng 2cm nằm ngay dưới núm vú trái. Kết quả sinh thiết xác định ung thư vú giai đoạn sớm. Với một người còn rất trẻ, phẫu thuật điều trị ung thư không chỉ đặt ra yêu cầu loại bỏ tổn thương an toàn mà còn kéo theo nguy cơ thay đổi đáng kể về hình thể.
Sau khi được đánh giá toàn diện, người bệnh được phẫu thuật đoạn nhũ kết hợp tái tạo vú tức thì bằng vạt cơ lưng rộng, đồng thời loại bỏ quầng núm vú nhằm bảo đảm diện cắt an toàn. Sau phẫu thuật, người bệnh hồi phục tốt, hoàn tất hóa trị hỗ trợ, tiếp tục điều trị nội tiết và tái khám định kỳ.
Hiện bệnh được kiểm soát ổn định, chưa ghi nhận dấu hiệu tái phát hoặc di căn xa. Đặc biệt, người bệnh tiếp tục học tập, làm việc, theo đuổi niềm yêu thích ca hát và nhảy múa.

Bác sĩ thăm khám cho người bệnh
Theo ThS.BS Nguyễn Sỹ Cam, các bằng chứng y khoa hiện nay cho thấy tái tạo vú không tăng nguy cơ tái phát và ảnh hưởng tỉ lệ sống còn của người bệnh. Tái tạo vú vì vậy không phải là một can thiệp thẩm mỹ tách rời quá trình điều trị ung thư. Thời điểm và phương pháp tái tạo cần được tính toán ngay trong kế hoạch điều trị tổng thể, trên cơ sở ưu tiên trước hết cho khả năng kiểm soát bệnh.
Bác sĩ khuyến cáo người bệnh nên được tư vấn về khả năng tái tạo vú ngay khi đã có đầy đủ kết quả lâm sàng, giải phẫu bệnh và hình ảnh học để xác định giai đoạn bệnh, trước khi bắt đầu phẫu thuật hoặc các phương pháp điều trị toàn thân. Trong điều trị ung thư vú, kiểm soát bệnh luôn là ưu tiên hàng đầu. Khi điều kiện chuyên môn cho phép, phục hồi hình thể và chất lượng sống cũng cần được tính toán ngay từ đầu trong kế hoạch điều trị. Mục tiêu sau cùng không chỉ là loại bỏ khối u, mà còn giúp người bệnh trở lại cuộc sống với hình thể, chức năng và chất lượng sống tốt nhất có thể, trên nền tảng bảo đảm an toàn ung thư học.
Kế hoạch xạ trị sau mổ cũng là một yếu tố quan trọng khi lựa chọn kỹ thuật. Tia xạ có thể ảnh hưởng đến mô vùng điều trị và làm tăng một số biến chứng, đặc biệt trong các trường hợp tái tạo bằng túi độn. Vì vậy, dự kiến điều trị bổ trợ cần được xem xét trước khi quyết định phương án tái tạo.
Theo ThS BS. Nguyễn Sỹ Cam, quyết định tái tạo cần có sự phối hợp của nhiều chuyên khoa. Hội chẩn giữa phẫu thuật tuyến vú, phẫu thuật tạo hình, ung bướu nội khoa và xạ trị giúp ê-kíp đồng thời đánh giá giai đoạn bệnh, phạm vi phẫu thuật, khả năng kiểm soát ung thư, kế hoạch điều trị bổ trợ và điều kiện tái tạo.
Cách tiếp cận đa chuyên khoa giúp lựa chọn phương án phù hợp với từng người bệnh, hạn chế nguy cơ ảnh hưởng đến tiến độ điều trị và bảo đảm việc theo dõi bệnh lâu dài.
Tái tạo vú bằng túi độn hay mô tự thân?
Hiện nay, tái tạo vú có thể được thực hiện bằng túi độn, mô tự thân hoặc kết hợp cả hai phương pháp. Theo bác sĩ, lựa chọn kỹ thuật không dựa trên một tiêu chí đơn lẻ mà phải được đặt trong toàn bộ kế hoạch điều trị ung thư của từng người bệnh.
Tái tạo bằng túi độn thường có thời gian phẫu thuật và hồi phục ngắn hơn, có thể phù hợp với một số trường hợp còn đủ da và mô mềm che phủ. Trong khi đó, tái tạo bằng mô tự thân, sử dụng các vạt mô lấy từ bụng, lưng hoặc những vùng khác trên cơ thể, có thể được cân nhắc khi người bệnh đoạn nhũ tiết kiệm da không hoàn toàn, đã hoặc dự kiến xạ trị, hoặc mong muốn hình thể tuyến vú tự nhiên hơn. Việc lựa chọn cuối cùng còn phụ thuộc vào đặc điểm cơ thể, bệnh lý đi kèm, kế hoạch điều trị bổ trợ và mong muốn của người bệnh.