Tăng trưởng kinh tế có đi cùng chất lượng việc làm của lao động nữ?
Ảnh minh họa
Thị trường lao động Việt Nam đang phục hồi cùng đà tăng trưởng của nền kinh tế. Doanh nghiệp tuyển dụng trở lại, số người có việc làm tăng, cơ hội việc làm dần mở rộng. Nhưng phía sau những tín hiệu tích cực ấy vẫn còn một câu hỏi cần được giải đáp, lao động nữ đang thực sự có những việc làm tốt hơn, hay chỉ có thêm cơ hội việc làm?
Có việc làm nhưng chưa chắc có cơ hội đi xa
7 giờ sáng, dòng người đổ về các khu công nghiệp ở Bắc Ninh. Trong dòng người ấy có chị Nguyễn Thị Hoài Thương (25 tuổi), nhân viên kiểm tra chất lượng tại một công ty sản xuất thiết bị y tế.
Công việc hiện tại đem lại cho chị mức thu nhập khoảng 8,5 triệu đồng/tháng. Với một người độc thân, khoản tiền này có thể đủ trang trải cuộc sống nếu biết tính toán. Nhưng sau tiền thuê phòng trọ, điện nước, ăn uống và những khoản chi thiết yếu, số tiền tích lũy mỗi tháng không còn nhiều. "Mỗi tháng mình phải cân đối rất nhiều khoản nhưng giá thuê trọ và chi phí sinh hoạt ở khu công nghiệp cũng ngày càng đắt đỏ", chị Thương chia sẻ.
Điều khiến chị suy nghĩ nhiều hơn không chỉ là mức lương hiện tại mà là câu hỏi: vài năm nữa, thu nhập của mình sẽ tăng bằng cách nào?
Theo chị Thương, muốn cải thiện thu nhập, người lao động phải có cơ hội học thêm, nâng cao chuyên môn hoặc chuyển sang những vị trí có yêu cầu kỹ năng cao hơn. Tuy nhiên, với lao động nữ, việc này đôi khi không dễ. "Ngoài thu nhập thì người lao động nữ cũng cần có cơ hội được đào tạo và phát triển. Nếu làm nhiều năm mà công việc chỉ dừng ở một vị trí thì rất khó cải thiện thu nhập", chị nói.

Chị Nguyễn Thị Hoài Thương
Nỗi lo ấy càng rõ hơn khi phụ nữ lập gia đình, sinh con. Quỹ thời gian dành cho công việc có thể bị thu hẹp; những khóa đào tạo ngoài giờ, cơ hội làm thêm hoặc những vị trí đòi hỏi phải thường xuyên tăng ca cũng trở nên khó tiếp cận hơn. Với chị Thương, một công việc tốt không chỉ là công việc trả lương đúng hạn. Đó còn phải là công việc cho người lao động nhìn thấy một con đường phía trước.
Vất vả mưu sinh với xe hàng rong
Dưới cái nắng như đổ lửa của Hà Nội, lưng áo chị Bùi Thị Thường (38 tuổi), quê Phú Thọ, đã đẫm mồ hôi. Chị dừng chiếc xe hàng rong dưới một gốc cây ven công viên, tranh thủ uống vội ngụm nước rồi lại tất tả đẩy chiếc xe chất đầy bát đĩa, bình hoa, cốc chén. Gần 200kg hàng hóa khiến mỗi bước chân của chị trở nên nặng nhọc. "Không dám đứng lâu đâu anh. Có khách thì bán thật nhanh rồi đi luôn, chứ dừng lâu là sợ bị nhắc nhở", chị nói, tay vẫn không rời chiếc xe.
Hơn 10 năm mưu sinh bằng nghề bán hàng rong, chị Thường đã quen với những cung đường quanh khu phố cổ Hà Nội. Từ 6 giờ sáng, chị rời căn phòng trọ nhỏ ở phường Tứ Liên, đẩy xe đi quãng đường 6-7km, khi sang Long Biên, lúc về khu vực Hồ Hoàn Kiếm rồi len lỏi qua những con phố đông người.
Trước đây, khi việc buôn bán trên vỉa hè, lòng đường chưa được quản lý chặt, chị có thể dừng lâu hơn ở những khu đông dân cư. Thu nhập mỗi ngày dao động khoảng 300.000-400.000 đồng.

Chị Bùi Thị Thường trao đổi với khách hàng
Nhưng khi việc lập lại trật tự vỉa hè được triển khai quyết liệt, những điểm bán quen thuộc không còn. Chị phải liên tục di chuyển, vừa bán hàng vừa quan sát. "Có hôm đi cả ngày với chiếc xe nặng gần hai tạ chỉ bán được vài món hàng. Có ngày kiếm được khoảng 200.000 đồng là may. Cũng có hôm đi mỏi chân mà chẳng bán được bao nhiêu", chị kể.
Ba người con của chị vẫn đang tuổi ăn học ở quê. Chồng chị cũng làm nghề bán hàng rong. Vài sào ruộng khoán không đủ nuôi cả gia đình nên hai vợ chồng phải chấp nhận cảnh người ở quê, người lên Hà Nội kiếm sống. "Đời mình vất vả một chút không sao, chỉ mong các con được học hành tử tế để sau này có công việc ổn định", chị Thường nói.
Khoảng cách thu nhập bắt đầu từ khoảng cách cơ hội
Theo PGS.TS Nguyễn Thị Lan Hương, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học Lao động và Xã hội, chênh lệch thu nhập giữa nam và nữ không nên chỉ được nhìn dưới góc độ doanh nghiệp trả lương khác nhau cho hai giới. "Bản chất sâu hơn nằm ở cơ hội tiếp cận việc làm có năng suất cao và khả năng phát triển nghề nghiệp", bà Hương phân tích.
Theo bà, nam giới hiện vẫn chiếm tỷ lệ cao hơn ở nhiều ngành nghề có mức thu nhập tốt, đồng thời có nhiều cơ hội tiếp cận các vị trí quản lý hoặc những công việc đòi hỏi trình độ chuyên môn cao.
Trong khi đó, phụ nữ phải đối mặt với những rào cản gắn với việc sinh con, chăm sóc con nhỏ và gia đình. Khi trách nhiệm chăm sóc chưa được chia sẻ đầy đủ, nhiều phụ nữ buộc phải lựa chọn những công việc có thời gian linh hoạt hơn, gần nhà hơn hoặc ít yêu cầu tăng ca.
Nhưng chính sự lựa chọn ấy có thể kéo theo hệ quả lâu dài về thu nhập và cơ hội nghề nghiệp. "Phụ nữ có xu hướng tập trung nhiều hơn ở các công việc ít có cơ hội thăng tiến hoặc có mức thu nhập thấp hơn", bà Hương cho biết.

PGS.TS Nguyễn Thị Lan Hương
Vì thế, khoảng cách giới không chỉ nằm trên bảng lương. Nó bắt đầu từ khoảng cách về cơ hội, cơ hội được đào tạo, tiếp cận công nghệ, chuyển đổi nghề nghiệp, đảm nhận vị trí quản lý và được làm việc trong môi trường có đầy đủ an sinh.
Từ "có việc làm" đến "việc làm có chất lượng"
Theo PGS.TS Nguyễn Thị Lan Hương, khi đánh giá thị trường lao động, không thể chỉ hỏi có bao nhiêu người có việc làm mà cần hỏi thêm, họ đang làm công việc gì, thu nhập ra sao, có được bảo vệ hay không và liệu công việc đó có giúp họ phát triển trong tương lai hay không.
Đặc biệt, với lao động nữ, chất lượng việc làm cần được nhìn nhận trên nhiều phương diện, thu nhập, điều kiện làm việc, bảo hiểm xã hội, cơ hội đào tạo, khả năng thăng tiến và khả năng cân bằng giữa công việc với gia đình.
Trong bối cảnh chuyển đổi số và tự động hóa diễn ra nhanh, vấn đề này càng trở nên rõ nét. Những công việc giản đơn có giá trị gia tăng thấp có nguy cơ bị thu hẹp, trong khi nhu cầu đối với lao động có kỹ năng số, ngoại ngữ, chuyên môn và khả năng thích ứng ngày càng tăng. "Nếu lao động nữ không được tạo điều kiện để tiếp cận những kỹ năng mới, họ có nguy cơ tiếp tục mắc kẹt trong nhóm việc làm có giá trị gia tăng thấp", bà Hương cảnh báo.
Theo số liệu điều tra lao động - việc làm, thu nhập bình quân của lao động nam hiện khoảng 10,1 triệu đồng/tháng, trong khi lao động nữ chỉ đạt khoảng 7,8 triệu đồng. Với nhóm lao động làm công hưởng lương, thu nhập bình quân của nam giới khoảng 10,5 triệu đồng, còn nữ giới khoảng 9,5 triệu đồng.
Điều đó đồng nghĩa với việc tăng trưởng kinh tế có thể tạo thêm việc làm nhưng chưa chắc đã tạo ra một thị trường lao động bình đẳng hơn. Để thay đổi, theo bà Hương, Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện chính sách thị trường lao động chủ động, tăng cường đào tạo nghề, hỗ trợ người lao động chuyển đổi việc làm và giám sát việc thực thi pháp luật về lao động, bình đẳng giới.
Với doanh nghiệp, cần xây dựng cơ chế tuyển dụng, trả lương và đánh giá dựa trên năng lực, hiệu quả công việc; đồng thời mở rộng cơ hội đào tạo, bổ nhiệm và phát triển nghề nghiệp cho lao động nữ. Các chính sách hỗ trợ người lao động chăm sóc con nhỏ, thời gian làm việc linh hoạt và môi trường thân thiện với gia đình cũng cần được xem như một phần của chiến lược phát triển nguồn nhân lực, thay vì chỉ là chi phí.
"Khi doanh nghiệp giữ chân được những lao động nữ có năng lực, chính doanh nghiệp cũng được hưởng lợi từ nguồn nhân lực đã được đào tạo và có kinh nghiệm. Ở chiều ngược lại, người lao động nữ cũng cần chủ động nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng số, ngoại ngữ và khả năng thích ứng với những thay đổi của thị trường", bà Hương chia sẻ.
Tuy nhiên, bà cũng cho rằng, không thể đặt toàn bộ trách nhiệm ấy lên vai người phụ nữ. Một lao động nữ khó có thể "tự nâng cao năng lực" nếu doanh nghiệp không tạo cơ hội đào tạo; khó có thể theo đuổi sự nghiệp dài hạn nếu trách nhiệm chăm sóc gia đình chỉ đặt lên vai họ; và càng khó cạnh tranh bình đẳng nếu những rào cản vô hình vẫn tồn tại trong tuyển dụng, đánh giá và thăng tiến.