Thanh khoản bớt căng, vì sao lãi suất chưa giảm?
Ảnh minh họa
Thanh khoản ngắn hạn của hệ thống ngân hàng đã bớt căng thẳng, nhưng lãi suất huy động chưa giảm tương ứng. Khi tín dụng tăng nhanh hơn huy động, trong khi nhu cầu vốn trung, dài hạn cho đầu tư và hạ tầng ngày càng lớn, áp lực lãi suất đang chuyển từ bài toán thanh khoản sang cân đối nguồn vốn.
Sau giai đoạn tăng mạnh, lãi suất liên ngân hàng đã hạ nhiệt trong những tuần gần đây. Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cũng liên tiếp điều chỉnh chính sách theo hướng tạo thêm dư địa cho các ngân hàng, từ cách tính tiền gửi Kho bạc Nhà nước (TGKB) vào tỷ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động (LDR) đến tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng cho vay trung, dài hạn. Bộ Tài chính mới đây còn đề xuất không áp dụng trần tỷ lệ TGKB đối với hệ thống ngân hàng từ nguồn ngân sách nhàn rỗi.
Tuy nhiên, thanh khoản trên thị trường liên ngân hàng cải thiện chưa kéo lãi suất thị trường 1 đi xuống. Theo NHNN, trong tháng 7, lãi suất tiền gửi bình quân tăng ở hầu hết các kỳ hạn, ngoại trừ kỳ hạn dưới một tháng.
Lãi suất cho vay cũng chưa giảm. Trong 19 ngân hàng thương mại trong nước đã công bố lãi suất cho vay bình quân tháng 7/2026, không ngân hàng nào giảm so với tháng trước. Mặt bằng lãi suất cho vay bình quân của nhóm ngân hàng thương mại nhà nước và cổ phần đối với các khoản vay mới và dư nợ hiện hữu ở mức 8,3-10,5%/năm. Nếu thanh khoản đã bớt căng, vì sao lãi suất vẫn khó hạ?
Thanh khoản hạ nhiệt, lãi suất huy động vẫn căng
Điểm khác biệt nằm ở chỗ thanh khoản ngắn hạn và nguồn vốn huy động không phải là một. Lãi suất liên ngân hàng phản ánh cung - cầu vốn ngắn hạn giữa các tổ chức tín dụng nên có thể giảm nhanh khi thanh khoản hệ thống cải thiện. Trong khi đó, lãi suất huy động phản ánh nhu cầu giữ và thu hút tiền gửi của từng ngân hàng. Một ngân hàng có thể không thiếu tiền để đáp ứng nhu cầu thanh khoản tức thời nhưng vẫn phải duy trì lãi suất hấp dẫn để bảo đảm nguồn tiền gửi ổn định.
Lãnh đạo Vietcombank cho biết thanh khoản hệ thống vẫn có những thời điểm chịu áp lực, nhất là đầu và cuối tháng, trong bối cảnh tín dụng tăng nhanh hơn huy động. Theo cách tính thông thường, LDR của Vietcombank khoảng 102%, nhưng theo cách tính LDR hiện hành của NHNN, ngân hàng vẫn nằm trong giới hạn 85%.

Sự chênh lệch này cho thấy áp lực nguồn vốn thực tế lớn hơn những gì chỉ tiêu theo quy định phản ánh. Nguồn vốn huy động từ khách hàng chưa tăng đủ nhanh so với tốc độ mở rộng tín dụng.
Khi tiền gửi không theo kịp, ngân hàng phải bổ sung nguồn vốn từ thị trường liên ngân hàng, phát hành giấy tờ có giá, trái phiếu hoặc vay nước ngoài. Các nguồn vốn này đều có chi phí, vì vậy không dễ để ngân hàng đồng thời tăng huy động, giảm lãi suất cho vay và bảo vệ biên lợi nhuận.
Theo Công ty Cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC), áp lực thanh khoản ngắn hạn đã giảm nhưng chưa đủ để hình thành xu hướng giảm bền vững của lãi suất trên thị trường. Việc mở rộng phạm vi tính TGKB vào LDR giúp ngân hàng giảm áp lực về chỉ tiêu an toàn, nhưng không đồng nghĩa lượng vốn khả dụng của toàn hệ thống tăng tương ứng.
Nói cách khác, NHNN đã giúp ngân hàng có thêm dư địa cân đối, nhưng cuộc cạnh tranh huy động chưa kết thúc.
Điều này lý giải vì sao lãi suất tiền gửi vẫn có xu hướng tăng ở một số kỳ hạn, ngay cả khi lãi suất liên ngân hàng đã giảm mạnh.
Tín dụng "chạy" nhanh, nguồn vốn dài hạn thiếu
Đằng sau cuộc đua huy động là một vấn đề mang tính cấu trúc: nguồn vốn của ngân hàng ngắn hơn kỳ hạn nhu cầu vốn của nền kinh tế.
Theo Thống đốc NHNN Phạm Đức Ấn, khoảng 80% nguồn vốn của hệ thống hiện là vốn ngắn hạn, trong khi vốn trung và dài hạn chỉ khoảng 20%. Trong khi đó, nhu cầu vay trung và dài hạn của doanh nghiệp ngày càng lớn.
Đây là sự lệch pha buộc ngân hàng phải cạnh tranh để kéo dài kỳ hạn tiền gửi.
Khi ngân hàng tài trợ cho các dự án bất động sản, hạ tầng, năng lượng hay sản xuất có thời gian thu hồi vốn nhiều năm, nguồn tiền gửi ngắn hạn không phải lúc nào cũng phù hợp. Muốn có nguồn vốn ổn định hơn, ngân hàng phải trả mức lãi suất đủ hấp dẫn để khách hàng chấp nhận gửi tiền dài hơn.
Vì vậy, việc lãi suất kỳ hạn 3-6 tháng cũng tăng không đơn thuần là cuộc đua giành thị phần tiền gửi. Đây còn là cách các ngân hàng điều chỉnh cơ cấu nguồn vốn.

Lãi suất liên ngân hàng đã hạ nhiệt trong những tuần gần đây. Nguồn: Wichart.
Công ty VDSC cho rằng chênh lệch kỳ hạn nguồn vốn đang là một trong những yếu tố cấu trúc chi phối lãi suất. Một số khoản tín dụng bất động sản được cơ cấu hoặc gia hạn vẫn nằm trên bảng cân đối nhưng chưa tạo dòng tiền tương xứng, khiến ngân hàng phải duy trì nguồn vốn cho những tài sản có vòng quay chậm.
Việc nới tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn giúp ngân hàng có thêm dư địa, nhưng không thể thay thế nguồn vốn dài hạn thực sự. Một đồng vốn bị "khóa" lâu hơn trong những khoản vay có vòng quay chậm đồng nghĩa ngân hàng phải tìm nguồn vốn ổn định hơn để cân đối.
Áp lực càng lớn khi nhu cầu vốn cho đầu tư công, hạ tầng giao thông, năng lượng, công nghệ và các dự án quy mô lớn đang tăng. Vietcombank hiện triển khai chương trình tín dụng cho các động lực tăng trưởng với quy mô doanh số 50.000 tỷ đồng, đồng thời áp dụng lãi suất thấp hơn tối thiểu 1%/năm so với lãi suất cho vay bình quân cùng kỳ hạn.
Như vậy, một mặt nền kinh tế cần tín dụng tăng nhanh để tạo động lực tăng trưởng, mặt khác hệ thống ngân hàng lại phải cung cấp phần lớn nguồn vốn trong khi nguồn tiền gửi chưa tăng tương ứng. Tín dụng càng tăng nhanh, áp lực huy động càng lớn nếu không có thêm nguồn vốn trung, dài hạn từ thị trường vốn.
Đây là lý do các biện pháp hỗ trợ thanh khoản chỉ có thể giải quyết phần ngọn. Về dài hạn, trái phiếu doanh nghiệp, quỹ đầu tư, bảo hiểm và các nguồn vốn quốc tế cần chia sẻ vai trò cung cấp vốn dài hạn với ngân hàng.
Lãi suất cao gây sức ép lên doanh nghiệp và tăng trưởng
Lãi suất huy động không giảm không chỉ là câu chuyện của ngân hàng. Nó quyết định chi phí vốn mà doanh nghiệp phải trả và tốc độ truyền dẫn của chính sách tiền tệ vào nền kinh tế.
Nếu lãi suất huy động tiếp tục cao trong nửa cuối năm, tác động sẽ không dừng ở bảng cân đối của ngân hàng mà lan sang chi phí vốn của toàn nền kinh tế.
Với ngân hàng, lãi suất đầu vào càng cao thì dư địa giảm lãi suất cho vay càng hẹp. Trong khi đó, các ngân hàng vẫn phải triển khai những chương trình tín dụng ưu đãi theo định hướng hỗ trợ tăng trưởng, tạo thêm sức ép lên biên lợi nhuận.
Những ngân hàng có CASA thấp, tỷ lệ tiền gửi có kỳ hạn cao hoặc phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn chi phí cao sẽ chịu áp lực lớn hơn. Ngược lại, ngân hàng có nền khách hàng ổn định và nguồn tiền gửi không kỳ hạn lớn sẽ có lợi thế hơn trong việc duy trì chi phí vốn thấp.
Với doanh nghiệp, vấn đề trực tiếp nhất là chi phí tài chính khó giảm như kỳ vọng.
Doanh nghiệp có đòn bẩy cao, dòng tiền yếu hoặc đang trong giai đoạn đầu tư mở rộng sẽ chịu tác động rõ nhất. Lãi suất cao làm tăng điểm hòa vốn, kéo dài thời gian thu hồi vốn và có thể khiến một số kế hoạch đầu tư phải điều chỉnh.
Bất động sản là một trong những lĩnh vực nhạy cảm nhất bởi đặc thù sử dụng vốn lớn và vòng quay vốn dài. Khi chi phí vay cao kéo dài, lợi nhuận bị bào mòn, đồng thời áp lực bán hàng và thu hồi công nợ tăng lên.
Ở chiều ngược lại, người gửi tiền hưởng lợi khi lãi suất huy động tăng. Tuy nhiên, nếu mặt bằng lãi suất cao kéo dài, dòng vốn giá rẻ đến doanh nghiệp sẽ chậm hơn, làm giảm hiệu quả truyền dẫn của chính sách tiền tệ.
Đây mới là rủi ro đáng chú ý đối với mục tiêu tăng trưởng.
Theo Techcombank, dù NHNN đã có nhiều động thái hỗ trợ thanh khoản và định hướng giảm lãi suất huy động, mặt bằng lãi suất thực tế chưa giảm như kỳ vọng. Lãnh đạo ngân hàng này dự báo lãi suất huy động có thể tăng khoảng 0,3 điểm phần trăm từ nay đến cuối năm do nhu cầu vốn lớn, đặc biệt cho các dự án hạ tầng.
Nếu kịch bản này xảy ra, nền kinh tế sẽ đứng trước nghịch lý: cần tín dụng tăng nhanh để thúc đẩy tăng trưởng nhưng chi phí của nguồn vốn lại không giảm tương ứng.
Khi đó, điều đáng quan tâm không chỉ là tăng trưởng tín dụng bao nhiêu phần trăm, mà là mỗi đồng tín dụng tạo ra bao nhiêu tăng trưởng và lợi nhuận cho nền kinh tế. Một doanh nghiệp vay vốn với lãi suất cao hơn sẽ phải tạo ra lợi nhuận đủ lớn để bù chi phí tài chính. Nếu không, mở rộng tín dụng chưa chắc chuyển hóa thành tăng trưởng thực chất.
Với ngân hàng, tín dụng tăng nhanh cũng không đồng nghĩa lợi nhuận sẽ tăng tương ứng nếu chi phí huy động tăng nhanh và chất lượng tài sản suy giảm. Với nền kinh tế, lãi suất cao kéo dài có thể làm chậm đầu tư tư nhân, đặc biệt ở những ngành có suất đầu tư lớn và thời gian thu hồi vốn dài.
Nhìn tổng thể, điều kiện tỷ giá và thanh khoản ngắn hạn đã thuận lợi hơn so với vài tháng trước. Nhưng để lãi suất bước vào một chu kỳ giảm bền vững, chỉ nới thanh khoản là chưa đủ. Điểm nghẽn nằm ở sự lệch pha giữa tốc độ tín dụng và tốc độ huy động, giữa nguồn vốn ngắn hạn và nhu cầu vốn dài hạn.
Chừng nào nền kinh tế còn cần vốn nhanh hơn tốc độ tích lũy tiền gửi, các ngân hàng vẫn phải cạnh tranh huy động. Và khi chi phí đầu vào chưa giảm, dư địa để hạ lãi suất cho vay trên diện rộng cũng sẽ còn hạn chế.
Thanh khoản đã bớt căng, nhưng bài toán nguồn vốn vẫn chưa được giải. Đây có thể là lý do khiến lãi suất chưa dễ giảm trong những tháng cuối năm.