Xem thêm thông tin của Báo PNVN trên
Phụ nữ Việt Nam
MỚI NHẤT ĐỘC QUYỀN MULTIMEDIA CHUYÊN ĐỀ
07/08/2026 - 16:45 (GMT+7)

Ngân hàng có thêm dư địa cho vay, vì sao lãi suất vẫn chưa giảm?

Thùy Linh
Ngân hàng có thêm dư địa cho vay, vì sao lãi suất vẫn chưa giảm?

Ảnh minh họa

Việc cho phép ngân hàng tính tới 50% tiền gửi Kho bạc Nhà nước khi xác định tỷ lệ LDR giúp nhóm ngân hàng thương mại Nhà nước, đặc biệt Big4, có thêm dư địa tín dụng. Tuy nhiên, chính sách này chưa tạo thêm nguồn vốn cho toàn hệ thống, trong khi chi phí huy động, lạm phát và tỷ giá vẫn chịu sức ép, khiến dư địa giảm lãi suất cho vay còn hạn chế.

Tháo "nút thắt" LDR, chưa tháo áp lực huy động

Từ ngày 1/8, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho phép các ngân hàng thương mại tính 50% tiền gửi của Kho bạc Nhà nước vào nguồn vốn huy động khi xác định tỷ lệ dư nợ cho vay trên tiền gửi (LDR), thay cho mức 20% trước đó. Quy định được áp dụng trong 2 năm.

Cùng với việc nâng tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn từ 30% lên 40%, các động thái này giúp ngân hàng có thêm dư địa mở rộng tín dụng trong bối cảnh nhu cầu vốn của nền kinh tế vẫn cao.

Tuy nhiên, tác động của chính sách cần được nhìn nhận đúng phạm vi. Việc nới tỷ lệ tiền gửi Kho bạc được tính vào LDR chủ yếu tạo thêm dư địa cho nhóm ngân hàng thương mại Nhà nước, đặc biệt là Big4, nơi đang nắm phần lớn nguồn tiền gửi này; chưa tạo ra tác động trực tiếp đến chi phí vốn của toàn hệ thống.

Ngân hàng có thêm dư địa cho vay, vì sao lãi suất vẫn chưa thể giảm? - Ảnh 1.

Bản chất của chính sách cũng không phải đưa thêm một lượng tiền mới vào hệ thống ngân hàng. Tiền gửi Kho bạc vốn đã nằm tại các ngân hàng. Việc nâng tỷ lệ được tính từ 20% lên 50% chỉ giúp ngân hàng được tính một phần lớn hơn của nguồn vốn này khi xác định LDR, qua đó giảm bớt áp lực về giới hạn cho vay trên tiền gửi.

Vì vậy, lợi ích trước mắt nằm ở khả năng phân bổ và sử dụng nguồn vốn, thay vì làm thay đổi mặt bằng chi phí vốn.

Điều này đặc biệt đáng chú ý trong bối cảnh áp lực huy động vẫn hiện hữu. Đến cuối quý II/2026, LDR toàn ngành ở mức 102,4%, dù đã cải thiện đáng kể so với 113% cuối quý I. Tín dụng tiếp tục tăng nhanh hơn huy động khiến các ngân hàng vẫn phải tìm kiếm và duy trì nguồn vốn, nhất là ở các kỳ hạn dài.

Khi nhiều ngân hàng cùng cần bổ sung nguồn vốn, cạnh tranh huy động vẫn có thể diễn ra. Khi đó, một ngân hàng có thêm dư địa LDR không đồng nghĩa có thể lập tức giảm lãi suất cho vay, bởi chi phí đầu vào vẫn là một yếu tố quyết định giá vốn.

Nói cách khác, chính sách mới đang tháo một phần ràng buộc về tỷ lệ đối với một nhóm ngân hàng, nhưng chưa giải quyết được bài toán cân đối giữa tăng trưởng tín dụng và nguồn vốn huy động trên toàn hệ thống.

Thanh khoản lên xuống nhanh, lãi suất khó giảm theo

Diễn biến trên thị trường liên ngân hàng những ngày gần đây cho thấy thanh khoản có thể thay đổi rất nhanh, trong khi chi phí vốn chưa hình thành một xu hướng giảm đủ rõ.

Lãi suất cho vay qua đêm từng giảm xuống 0,7% trong phiên 30/7 nhưng nhanh chóng tăng lên 6,4% vào ngày 4/8, trước khi hạ về 4,6% trong phiên 6/8. Trong khi đó, lãi suất kỳ hạn một tháng vẫn quanh 6,9%/năm.

Sự biến động mạnh của lãi suất qua đêm cho thấy cung - cầu vốn ngắn hạn giữa các ngân hàng vẫn thay đổi theo từng thời điểm. Vì vậy, việc lãi suất qua đêm giảm sâu trong một vài phiên chưa đủ để kết luận chi phí vốn của toàn hệ thống đang đi xuống.

Ngân hàng có thêm dư địa cho vay, vì sao lãi suất vẫn chưa thể giảm? - Ảnh 2.

Trong phiên 6/8, NHNN tiếp tục điều tiết qua nghiệp vụ thị trường mở. NHNN chào thầu 2.000 tỷ đồng kỳ hạn 7 ngày và 1.000 tỷ đồng cho mỗi kỳ hạn 42, 63 và 91 ngày, cùng mức lãi suất 4,5%. Có 2.788,56 tỷ đồng trúng thầu, trong khi 6.000 tỷ đồng đáo hạn. NHNN không chào thầu tín phiếu.

Như vậy, NHNN hút ròng 3.211,44 tỷ đồng khỏi thị trường trong phiên này, với 190.527,26 tỷ đồng đang lưu hành trên kênh cầm cố.

Những diễn biến trên cho thấy thanh khoản ngắn hạn vẫn đang được nhà điều hành điều tiết linh hoạt. Tuy nhiên, lãi suất liên ngân hàng chỉ phản ánh một lớp rất ngắn hạn của thị trường vốn. Để lãi suất cho vay thương mại giảm bền vững, yếu tố quan trọng hơn vẫn là chi phí huy động tiền gửi, diễn biến tín dụng, chất lượng tài sản và khả năng cân đối nguồn vốn của từng ngân hàng.

Theo nhóm phân tích SSI, dữ liệu tháng 7 mới tạo thêm dư địa điều tiết thanh khoản trong ngắn hạn, chưa đủ để mở ra một chu kỳ giảm lãi suất. Để lãi suất cho vay giảm bền vững, cần đồng thời thấy chi phí vốn kỳ hạn hạ xuống, lạm phát cơ bản giảm và áp lực tỷ giá dịu lại.

Hiện ba điều kiện này chưa hội tụ đầy đủ.

CPI tháng 7/2026 giảm 0,12% so với tháng trước, nhưng CPI bình quân 7 tháng vẫn tăng 4,39% so với cùng kỳ. Điều đó cho thấy áp lực giá cả chưa biến mất, trong khi tỷ giá tiếp tục là một biến số quan trọng khi đánh giá dư địa điều hành chính sách tiền tệ.

Vì vậy, thanh khoản có thể được cải thiện trong từng thời điểm nhưng chưa đủ để tạo ra một xu hướng giảm bền vững của chi phí vốn. Đây là điểm cần lưu ý khi đánh giá tác động của các chính sách hỗ trợ thanh khoản gần đây.

Từ "room" tín dụng đến túi tiền người vay: còn một chặng dài

Một mắt xích quan trọng khác nằm ở dòng tiền ngân sách và tiến độ giải ngân đầu tư công.

Trong 7 tháng đầu năm, thu ngân sách vượt chi, trong khi một phần nguồn lực tài khóa chưa được giải ngân ngay vào nền kinh tế. Khi đầu tư công được đẩy nhanh, dòng tiền sẽ được chuyển tới nhà thầu, nhà cung cấp và người lao động, sau đó quay trở lại hệ thống ngân hàng thông qua tiền gửi, thanh toán và nhu cầu tín dụng.

Vì vậy, vấn đề cần theo dõi không chỉ là hệ thống ngân hàng đang có bao nhiêu tiền, mà còn là dòng tiền đang nằm ở đâu và khi nào thực sự quay trở lại nền kinh tế.

Ngân hàng có thêm dư địa cho vay, vì sao lãi suất vẫn chưa thể giảm? - Ảnh 3.

Tiền gửi Kho bạc có thể giúp một số ngân hàng giảm áp lực LDR, nhưng nếu dòng tiền chưa được giải ngân vào các hoạt động sản xuất, đầu tư và tiêu dùng, tác động lan tỏa tới nền kinh tế vẫn còn hạn chế.

Khi đầu tư công tăng tốc, dòng tiền được chuyển tới các doanh nghiệp xây dựng, nhà cung cấp vật liệu, dịch vụ và người lao động. Khi đó, doanh nghiệp có thêm doanh thu và dòng tiền, người lao động có thêm thu nhập, còn ngân hàng có thêm dòng tiền gửi và nhu cầu tín dụng thực.

Đây mới là quá trình giúp thanh khoản được truyền dẫn từ hệ thống tài chính sang nền kinh tế thực, thay vì chỉ cải thiện các chỉ tiêu trên bảng cân đối của một nhóm ngân hàng.

Với doanh nghiệp và người dân, tác động của chính sách vì thế cũng cần được nhìn theo hai lớp.

Ở lớp thứ nhất, ngân hàng có thêm dư địa LDR có thể giúp khả năng cung ứng tín dụng được cải thiện, nhất là tại những ngân hàng hưởng lợi trực tiếp từ quy định mới.

Nhưng ở lớp thứ hai, để khách hàng thực sự được hưởng lãi suất thấp hơn, ngân hàng phải có chi phí vốn đầu vào giảm. Nếu lãi suất huy động vẫn chịu sức ép, tín dụng tăng nhanh, trong khi áp lực tỷ giá và lạm phát chưa giảm rõ rệt, khả năng giảm lãi suất cho vay sẽ bị giới hạn.

Muốn lãi suất cho vay giảm bền vững, thị trường cần nhìn thấy sự cải thiện đồng thời ở nhiều biến số: tín dụng không còn tăng quá xa huy động, chi phí huy động giảm, lạm phát được kiểm soát, áp lực tỷ giá dịu lại và dòng tiền tài khóa được đưa nhanh hơn vào nền kinh tế.

Khi những điều kiện này cùng xuất hiện, ngân hàng mới có cơ sở giảm chi phí đầu vào và truyền dẫn mức giảm đó sang lãi suất cho vay.

Còn hiện tại, nới trần tiền gửi Kho bạc mới chủ yếu tạo thêm dư địa cho nhóm ngân hàng thương mại Nhà nước, đặc biệt Big4, trong khi chưa đủ sức thay đổi mặt bằng chi phí vốn của toàn hệ thống.

Vì thế, điều đáng chờ đợi trong những tháng tới không chỉ là NHNN có tiếp tục điều chỉnh các quy định theo hướng hỗ trợ thanh khoản hay không, mà là lãi suất huy động có thực sự hạ, tín dụng có cân bằng hơn với huy động và dòng tiền có thực sự quay trở lại nền kinh tế hay không.

Đó mới là những chỉ dấu quan trọng để xác định liệu mặt bằng lãi suất có thể bước sang một chu kỳ giảm mới.

Ý kiến của bạn
Bình luận
Xem thêm bình luận