Xem thêm thông tin của Báo PNVN trên
Phụ nữ Việt Nam
MỚI NHẤT ĐỘC QUYỀN MULTIMEDIA CHUYÊN ĐỀ
12/08/2026 - 07:13 (GMT+7)

Tháo gỡ 3 "nút thắt" để đưa nghiên cứu của các nhà khoa học nữ ra thị trường

Kim Thanh
Tháo gỡ 3 "nút thắt" để đưa nghiên cứu của các nhà khoa học nữ ra thị trường

Bà Lê Thị Khánh Vân, nguyên Phó Cục trưởng Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia (Bộ KH&CN), Giám đốc Trung tâm Ứng dụng Khoa học Công nghệ và Khởi nghiệp, Hội Nữ trí thức Việt Nam

Tận hiến và ghi dấu ấn đậm nét trong nhiều lĩnh vực then chốt, nhưng con đường đưa các kết quả nghiên cứu từ phòng thí nghiệm ra thị trường của các nhà khoa học nữ Việt Nam vẫn còn gặp không ít trở ngại.

Phóng viên Báo Phụ nữ Việt Nam đã có cuộc trao đổi với bà Lê Thị Khánh Vân, nguyên Phó Cục trưởng Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia (Bộ KH&CN), Giám đốc Trung tâm Ứng dụng Khoa học Công nghệ và Khởi nghiệp, Hội Nữ trí thức Việt Nam, về thực trạng và giải pháp cho bài toán này.

PV: Bà đánh giá như thế nào về những cống hiến của lực lượng nữ trí thức đối với nền khoa học và công nghệ Việt Nam thời gian qua?

Bà Lê Thị Khánh Vân: Trực tiếp làm việc nhiều với các nhà khoa học, tôi luôn cảm thấy vô cùng tự hào về lực lượng nữ trí thức. Hai từ chính xác nhất để nói về họ là "tận hiến". Họ cống hiến tri thức và năng lực với tâm niệm hướng tới sự phát triển chung của đất nước, làm việc kiên trì, chịu đựng và cực kỳ nhẫn nại.

Sự sáng tạo của nữ giới hoàn toàn không kém cạnh nam giới. Nếu nam giới thường chiếm ưu thế ở các mảng công nghệ kỹ thuật hay IT, thì phụ nữ lại khẳng định vị thế vượt trội trong công nghệ sinh học, dược phẩm, vật liệu, nông nghiệp và khoa học xã hội. Theo số liệu khảo sát của Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia, tỷ lệ nữ giới nghiên cứu trong lĩnh vực y tế và dược phẩm thậm chí còn cao hơn nam giới.

PV: Sở hữu nhiều đề tài tiềm năng, nhưng vì sao hành trình thương mại hóa sản phẩm của các nữ khoa học gia vẫn còn rất gập ghềnh, thưa bà?

Bà Lê Thị Khánh Vân: Khoảng cách từ phòng lab ra thị trường là một "khoảng trống" rất lớn. Nếu không tháo gỡ, chúng ta sẽ lãng phí nhiều công sức và khiến đề tài rơi vào cảnh "nghiên cứu xong rồi cất ngăn kéo". Tôi thấy có 3 "nút thắt" cốt lõi:

Thứ nhất là thiếu cầu nối với doanh nghiệp. Nhà khoa học nữ có thể ngồi hàng chục tiếng trong phòng lab, nhưng lại ngại ra thị trường tiếp xúc doanh nghiệp. Họ thiếu các tổ chức trung gian hỗ trợ kết nối, như mô hình Trung tâm Ứng dụng KHCN & Khởi nghiệp hiện nay đang làm để đóng vai trò "cánh tay nối dài" cho Hội Nữ trí thức. 

Mặt khác, phụ nữ phải gánh vác "chức năng kép", vừa hoàn thành chuyên môn vừa lo con cái, bố mẹ hai bên. Nam giới có thể mở rộng quan hệ, chốt hợp đồng qua các buổi giao lưu, tiếp xúc sau giờ làm việc, còn phụ nữ hết giờ là phải về chăm gia đình nên tính kết nối bị hạn chế.

Tháo gỡ 3 "nút thắt" để đưa nghiên cứu của các nhà khoa học nữ ra thị trường- Ảnh 1.

Nhà khoa học nữ có thể ngồi hàng chục tiếng trong phòng lab, nhưng lại ngại ra thị trường tiếp xúc doanh nghiệp.

Thứ hai là hạn chế về nguồn lực tài chính. Nhiều nhà khoa học nữ có kinh phí làm nghiên cứu cơ bản nhưng lại thiếu nghiêm trọng vốn để phát triển sản phẩm, thử nghiệm, hoàn thiện công nghệ hay đăng ký sở hữu trí tuệ. Đặc biệt, chúng ta đang rất thiếu các quỹ đầu tư mạo hiểm dành riêng cho công nghệ do phụ nữ làm chủ.

Thứ ba là thiếu hệ sinh thái hỗ trợ kỹ năng. Các chị em rất giỏi chuyên môn nhưng khi giới thiệu sản phẩm lại quá nặng tính hàn lâm. Trong khi đó, doanh nghiệp chỉ quan tâm bài toán kinh tế: Đầu tư vào đây bao lâu thu hồi vốn? Mức phí bản quyền là bao nhiêu? Thực tế nhiều chị em đòi hỏi mức phí bản quyền lên tới 10% do chưa nắm rõ về quản trị công nghệ và định hình lộ trình thương mại hóa (mạng lưới cố vấn, tư vấn pháp lý, kỹ năng gọi vốn, marketing).

PV: Về mặt thể chế, đâu là những khoảng trống chính sách cần sớm được khỏa lấp để cởi trói cho các nhà khoa học nữ?

Bà Lê Thị Khánh Vân: Khó khăn lớn nhất nằm ở khâu cụ thể hóa chính sách. Mặc dù Nghị định 268 có điều khoản ưu tiên nữ giới, nhưng do thiếu các Thông tư hướng dẫn chi tiết (như tiêu chí: Nếu cùng thang điểm, cùng tiêu chuẩn thì ưu tiên dự án do nữ làm chủ), nên cấp thực thi không có căn cứ áp dụng.

Chúng ta nên tham khảo kinh nghiệm từ Hàn Quốc. Sau khủng hoảng kinh tế 1997, họ nhận ra việc các nữ tiến sĩ lấy chồng rồi ở nhà nuôi con gây lãng phí lớn nguồn lực trí thức, không thể phát triển bền vững nếu không huy động mọi thành phần. Do đó, ngay từ năm 2002, Hàn Quốc đã ban hành hẳn một Đạo luật riêng để hỗ trợ các nhà khoa học nữ.

Chính sách muốn đi vào cuộc sống thì phải sát thực tế như vậy. Giống như thời tôi đi học ở nước ngoài, học bổng nam là 18.000 thì nữ được 22.500, trong đó 4.500 chênh lệch là khoản hỗ trợ riêng cho phụ nữ cho những ngày "đèn đỏ".

Tháo gỡ 3 "nút thắt" để đưa nghiên cứu của các nhà khoa học nữ ra thị trường- Ảnh 2.

Trong vòng 3 đến 5 năm tới, phải phấn đấu đưa ít nhất 30% đến 50% kết quả nghiên cứu tiềm năng của các nhà khoa học nữ thương mại hóa thành công.

PV: Để tháo gỡ các điểm nghẽn này và tạo động lực cho các nhà khoa học nữ, bà có những đề xuất giải pháp cụ thể nào?

Bà Lê Thị Khánh Vân: Muốn tháo gỡ tận gốc những điểm nghẽn này, tôi cho rằng chúng ta phải chuyển dịch mạnh mẽ từ các cuộc trao đổi học thuật thuần túy sang hành động thực tiễn bằng một hệ thống giải pháp đồng bộ.

Trước hết, về cơ chế và hạ tầng hậu cần, chính sách cần có sự thấu hiểu và chia sẻ thực chất với chức năng sinh sản của người phụ nữ. Cụ thể, về quản lý nhà nước nên cho phép tính "độ trễ" hợp lý trong thời hạn nghiệm thu đề tài đối với các nhà khoa học nữ trong giai đoạn thai sản và nuôi con nhỏ, thay vì cứng nhắc đánh giá họ không hoàn thành nhiệm vụ. Bên cạnh đó, việc đầu tư xây dựng nhà trẻ hay các phòng chức năng riêng ngay tại không gian làm việc của các trường đại học, viện nghiên cứu sẽ là điểm tựa hậu cần thiết thực, giúp các chị em giải tỏa gánh nặng tâm lý để yên tâm cống hiến.

Song song với đó là bài toán về nguồn lực tài chính. Nhà nước cần thiết lập các chính sách trợ cấp và ưu đãi tài chính trực tiếp, hỗ trợ từ 30% đến 70% giá trị dự án tùy theo từng lĩnh vực chuyên sâu, nhằm kích thích các doanh nghiệp mạnh dạn tiếp nhận và ứng dụng kết quả nghiên cứu của nữ giới. Đồng thời, việc khơi thông và thúc đẩy sự đồng hành từ các quỹ tài trợ tư nhân cũng mang ý nghĩa quyết định. Ngay từ đầu năm nay, chúng tôi đã chủ động làm việc với đại diện Quỹ VinIF để đề xuất các cơ chế linh hoạt, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các nữ trí thức đứng ra trực tiếp làm chủ nhiệm đề tài.

Cuối cùng, ở góc độ quản lý và định hướng chiến lược, Bộ Khoa học và Công nghệ đóng vai trò kiến tạo then chốt trong việc hoàn thiện hành lang pháp lý và dẫn dắt hệ sinh thái. Chúng ta không thể nói chung chung mà cần đặt ra một mục tiêu hành động rõ ràng: Trong vòng 3 đến 5 năm tới, phải phấn đấu đưa ít nhất 30% đến 50% kết quả nghiên cứu tiềm năng của các nhà khoa học nữ thương mại hóa thành công. Chỉ khi những tri thức ấy bước ra khỏi phòng lab để tạo ra giá trị kinh tế thực tế cho xã hội, sự tận hiến của các nữ khoa học gia mới thực sự được đền đáp xứng đáng.

PV: Xin cảm ơn bà về cuộc trao đổi!

Ý kiến của bạn
Bình luận
Xem thêm bình luận