Đừng để chất xám của các nhà khoa học nữ "mắc kẹt" ở phòng thí nghiệm
Hội thảo quốc tế “Nữ khoa học hướng tới thị trường: Xây dựng hệ sinh thái hỗ trợ nữ khoa học trong nền kinh tế xanh và kinh tế số” ngày 10/6
Dù chiếm đến 46% lực lượng nghiên cứu và phát triển (R&D) tại Việt Nam, con đường đưa chất xám từ phòng thí nghiệm ra thị trường của các nữ trí thức vẫn đang bị nghẽn lại trước "thung lũng chết" của quá trình thương mại hóa do những rào cản giới định kiến và vô hình.
Đây là một bài toán nhức nhối về bình đẳng giới thực chất được đưa ra tại Hội thảo quốc tế "Nữ khoa học hướng tới thị trường: Xây dựng hệ sinh thái hỗ trợ nữ khoa học trong nền kinh tế xanh và kinh tế số" do Hội Nữ trí thức Việt Nam phối hợp với Cơ quan Liên hợp quốc về Bình đẳng giới và Trao quyền cho phụ nữ (UN Women) tại Việt Nam tổ chức ngày 10/6 tại Hà Nội.
Khoảng trống quyền lực sau những công trình lớn
Hôi thảo đã chỉ ra rằng, năng lực sáng tạo của các nhà khoa học nữ Việt Nam là điều đã được khẳng định qua nhiều thế hệ với những thành tựu vang dội ở các lĩnh vực vốn tưởng là thế mạnh của nam giới. Giới khoa học luôn tự hào khi nhắc đến GS.TS. Nguyễn Thị Hòe với thương hiệu sơn nano cao cấp từ vỏ trấu; PGS.TS. Nguyễn Thị Trâm với các giống lúa năng suất cao bảo đảm an ninh lương thực, hay GS.TS. Vũ Thị Thu Hà với gần 40 bằng sáng chế quốc tế về phụ gia tiết kiệm nhiên liệu. Gần đây nhất, PGS.TSKH. Nguyễn Thị Mộng Điệp cũng đã ghi danh vào nhóm nhà khoa học có ảnh hưởng nhất thế giới năm 2025 trong lĩnh vực y sinh.

Các đại biểu tham dự Hội thảo
Tuy nhiên, nếu nhìn sâu vào lăng kính giới, đằng sau những đỉnh cao ấy lại là một khoảng trống lớn về vị thế và quyền lực mang tính hệ thống. Trong khi lực lượng nghiên cứu nữ hùng hậu chiếm gần một nửa đất nước, tỷ lệ phụ nữ làm chủ nhiệm các nhiệm vụ khoa học và công nghệ mới chỉ đạt 25,5%. Đáng ngại hơn, tỷ lệ nữ giới sở hữu các bằng sáng chế, giải pháp hữu ích hay kiểu dáng công nghiệp chỉ dao động khiêm tốn từ 13% đến 20%. Nghịch lý này chỉ ra rằng, phụ nữ đang tham gia làm nền tảng rất đông, nhưng số người thực sự nắm quyền dẫn dắt đề tài hay làm chủ sở hữu tài sản trí tuệ để bước ra thương trường lại quá ít ỏi. Phần lớn kết quả nghiên cứu của chị em vẫn đang dừng lại ở dạng bài báo quốc tế hoặc nằm im trong hộc tủ, chưa thể chuyển hóa thành quyền lực kinh tế cho chính họ và cho xã hội.
Áp lực kép từ định kiến và "kinh tế chăm sóc"
Theo các đại biểu tham dự Hội thảo, chặng đường chuyển đổi từ một đề tài nghiên cứu được nghiệm thu xuất sắc thành một sản phẩm thương mại vốn là thử thách nghiệt ngã mang tên "thung lũng chết". Đối với các nhà khoa học nữ, thử thách này lại càng nhân lên gấp bội bởi họ phải đối mặt với một bộ lọc khắc nghiệt của định kiến xã hội. Việc đưa sản phẩm ra thị trường đòi hỏi những kỹ năng thương trường như xây dựng mô hình kinh doanh, gọi vốn, đàm phán với doanh nghiệp. Trong môi trường kinh doanh vốn còn nặng định kiến giới, các nhà khoa học nữ đang chịu thiệt thòi lớn khi thiếu các mạng lưới kết nối, các dịch vụ tư vấn chuyên sâu cũng như cơ hội tiếp cận các quỹ đầu tư mạo hiểm, nơi nam giới thường có lợi thế kết giao hơn.

GS.TS. Lê Thị Hợp, Chủ tịch Hội Nữ trí thức Việt Nam phát biểu
Nhưng rào cản lớn nhất, dai dẳng nhất chính là gánh nặng từ công việc chăm sóc gia đình không được trả công. Nhìn nhận thẳng thắn về vấn đề này, GS.TS. Lê Thị Hợp, Chủ tịch Hội Nữ trí thức Việt Nam chia sẻ, các nhà nữ khoa học không yêu cầu phải ưu tiên về mặt chuyên môn, kỹ thuật hay ngoại ngữ vì bản thân họ luôn tự phấn đấu ngang bằng với nam giới. Bình đẳng giới ở đây không có nghĩa là cào bằng, mà điều các nữ trí thức mong muốn là Chính phủ có những ưu tiên đặc thù hơn, đặc biệt là các nhà khoa học nữ trẻ để họ có điều kiện phấn đấu và cống hiến tốt hơn cho khoa học nước nhà. Việc vừa phải làm tròn vai người phụ nữ của gia đình, vừa phải lăn lộn trong phòng thí nghiệm và trên thương trường đã tạo ra áp lực kép đè nặng lên vai chị em, bóp nghẹt cơ hội bứt phá của họ trước những đòi hỏi khắt khe về thời gian và sự linh hoạt của giới khởi nghiệp đổi mới sáng tạo.
Thay đổi tư duy: Từ khuyến khích sang trao quyền
Để giải phóng toàn diện sức sáng tạo và mở đường cho các sản phẩm của nữ giới bước ra cuộc sống, các chuyên gia khẳng định Việt Nam cần thay đổi tư duy căn bản: Không thể chỉ dừng lại ở việc khuyến khích phụ nữ làm khoa học như một khẩu hiệu phong trào, mà phải thực sự trao quyền bằng một hệ sinh thái có đáp ứng giới. Đóng góp giải pháp cho vấn đề này, TS. Nguyễn Thị Hương Giang, Phó Giám đốc Học viện Chiến lược Khoa học và Công nghệ đề xuất cần lồng ghép bình đẳng giới vào thẳng các chương trình công nghệ chiến lược, kinh tế xanh, kinh tế số và phát triển bền vững. Đồng thời, cần xây dựng những chương trình nâng cao năng lực thương mại hóa cho nữ khoa học bao gồm sở hữu trí tuệ, gọi vốn, quản trị tài sản trí tuệ và đặc biệt là phát triển mạng lưới kết nối cố vấn giữa nữ nhà khoa học với các nữ doanh nhân công nghệ đi trước để nâng đỡ thế hệ trẻ.

Bà Caroline Nyamayemombe, Trưởng đại diện UN Women tại Việt Nam
Từ góc nhìn quốc tế, bà Caroline Nyamayemombe, Trưởng đại diện UN Women tại Việt Nam khẳng định bình đẳng giới không chỉ là một yêu cầu về công bằng xã hội mà còn là một yêu cầu về phát triển kinh tế. Bà kêu gọi cộng đồng cùng chung tay xây dựng một hệ sinh thái nơi không một tài năng nào bị lãng phí, không một sáng kiến nào bị bỏ lại phía sau để mọi nhà khoa học nữ đều có cơ hội đóng góp trọn vẹn cho tương lai xanh và số của Việt Nam.
Rõ ràng, việc tháo gỡ rào cản giới thông qua các chính sách hỗ trợ an sinh, giảm tải gánh nặng gia đình và thiết lập các quỹ tài chính công - tư cho phụ nữ chính là chìa khóa để Việt Nam khai phóng nguồn lực trí tuệ to lớn này, biến tri thức của các nhà khoa học nữ thành động lực tăng trưởng bền vững cho đất nước trong kỷ nguyên mới.