Xem thêm thông tin của Báo PNVN trên
Phụ nữ Việt Nam
MỚI NHẤT ĐỘC QUYỀN MULTIMEDIA CHUYÊN ĐỀ
21/03/2026 - 17:11 (GMT+7)

Trường học vùng khó: 1 giáo viên tiếng Anh "cõng" hơn chục lớp

Tuấn Khang
Trường học vùng khó: 1 giáo viên tiếng Anh "cõng" hơn chục lớp

Tại nhiều trường vùng cao, việc đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ 2 trong trường học còn gặp nhiều khó khăn.

Đề án “Đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học giai đoạn 2025 - 2035, tầm nhìn đến năm 2045” mở ra kỳ vọng lớn về việc nâng cao chất lượng giáo dục và chuẩn bị nguồn nhân lực hội nhập. Tuy nhiên, ở những địa bàn khó khăn, mục tiêu này đang đối mặt với không ít trở ngại.

Ở các đô thị, việc học tiếng Anh ngày càng trở nên phổ biến, thậm chí trở thành một lợi thế cạnh tranh ngay từ bậc tiểu học. Nhưng tại vùng sâu, vùng xa, nơi học sinh còn chật vật với tiếng Việt, việc tiếp cận thêm một ngôn ngữ mới là câu chuyện không đơn giản.

Tại Trường Tiểu học - THCS Hang Kia A (Phú Thọ), bà Ngần Thị Lâm, Hiệu trưởng nhà trường cho biết, hiện trường có 432 học sinh, chủ yếu là con em đồng bào dân tộc Mông. Khi bước vào lớp 1, nhiều em vẫn chưa nói sõi tiếng phổ thông, dẫn đến việc tiếp thu kiến thức cơ bản đã gặp khó khăn, chưa nói đến học thêm tiếng Anh.

"Việc học tiếng Việt còn chưa vững, nên khi đưa tiếng Anh vào từ sớm, các em dễ bị 'quá tải ngôn ngữ'. Giáo viên phải vừa dạy kiến thức, vừa hỗ trợ các em làm quen với tiếng phổ thông", bà Lâm chia sẻ.

Không chỉ khó khăn về đầu vào của học sinh, "bài toán" nhân lực cũng đang là áp lực lớn đối với nhà trường. Hiện tại, Hang Kia A chỉ có 2 giáo viên tiếng Anh phụ trách giảng dạy cho 22 lớp học. Khối lượng công việc lớn khiến các giáo viên phải dạy ghép lớp, đồng thời liên tục di chuyển giữa điểm trường chính và 3 điểm lẻ cách xa từ 7 đến 8km.

Trường học vùng khó: 1 giáo viên tiếng Anh

Bà Ngần Thị Lâm, Hiệu trưởng Trường Tiểu học - THCS Hang Kia A (Phú Thọ).

"Để đảm bảo dạy tiếng Anh bắt buộc từ lớp 1 theo lộ trình, chúng tôi cần thêm ít nhất 2 giáo viên nữa. Nhưng việc tuyển dụng giáo viên ở vùng cao không dễ, nhiều năm vẫn không có nguồn", bà Lâm nói.

Thêm vào đó, yếu tố địa lý cũng khiến việc ứng dụng công nghệ trong giảng dạy gặp nhiều trở ngại. Nhiều khu vực chưa có sóng internet ổn định, khiến việc dạy học trực tuyến khó triển khai hiệu quả.

Câu chuyện tại Trường phổ thông dân tộc bán trú (PTDTBT) Tiểu học Mỹ Lý 2 (Nghệ An) còn nhiều thách thức hơn. Theo ông Trần Sỹ Hà, Hiệu trưởng nhà trường, trận lũ lịch sử đầu tháng 8/2025 đã cuốn trôi gần như toàn bộ cơ sở vật chất, khiến việc dạy và học bị gián đoạn nghiêm trọng.

"Hiện chúng tôi vẫn đang khắc phục hậu quả sau lũ. Phòng học tạm bợ, thiết bị thiếu thốn, nên việc triển khai dạy tiếng Anh theo đúng yêu cầu là rất khó khăn", ông Hà cho biết.

Không chỉ thiếu phòng học, trường còn không có giáo viên tiếng Anh. Những năm trước, nhà trường phải nhờ giáo viên từ nơi khác dạy trực tuyến. Tuy nhiên, trong điều kiện hạ tầng yếu kém, phương thức này cũng chỉ mang tính tạm thời.

"Nếu cơ sở vật chất được phục hồi, chúng tôi vẫn cần ít nhất 2 giáo viên tiếng Anh để đảm bảo việc giảng dạy. Nhưng bài toán nhân lực ở vùng cao luôn rất nan giải", ông Hà trăn trở.

Trường học vùng khó: 1 giáo viên tiếng Anh

Ông Trần Sỹ Hà, Hiệu trưởng Trường PTDTBT Tiểu học Mỹ Lý 2 (Nghệ An).

Tại Trường PTDTBT Sủng Là (xã Sà Phìn, Tuyên Quang), tình trạng thiếu giáo viên cũng diễn ra tương tự. Ông Nguyễn Văn Lợi, Hiệu trưởng nhà trường cho biết, toàn trường hiện chỉ có 1 giáo viên tiếng Anh phụ trách 13 lớp học. Để đáp ứng yêu cầu tối thiểu, trường cần thêm ít nhất 3 giáo viên, nhưng nhiều năm qua vẫn không thể tuyển đủ.

"Giáo viên tiếng Anh thường ưu tiên làm việc ở khu vực thuận lợi hơn. Điều kiện sinh hoạt khó khăn, đi lại vất vả khiến việc thu hút và giữ chân giáo viên ở vùng cao rất khó", ông Lợi nói.

Thực tế, bên cạnh thiếu hụt giáo viên, sự chênh lệch về điều kiện học tập cũng đang tạo ra khoảng cách lớn trong việc tiếp cận tiếng Anh giữa học sinh miền núi và đồng bằng. Trong khi học sinh thành phố có thể học thêm, tiếp xúc với môi trường ngôn ngữ đa dạng, thì học sinh vùng cao gần như chỉ tiếp cận tiếng Anh qua những tiết học trên lớp, thậm chí còn không đủ điều kiện để học đều đặn.

Vậy nên, để việc thực hiện Đề án đạt hiệu quả, cần có những chính sách linh hoạt, phù hợp với đặc thù từng vùng. Trong đó, ưu tiên đầu tư cơ sở vật chất, tăng cường đào tạo và thu hút giáo viên, đồng thời xây dựng lộ trình giảng dạy phù hợp với năng lực tiếp nhận của học sinh vùng dân tộc thiểu số.

Ý kiến của bạn
Bình luận
Xem thêm bình luận