Truyện ngắn: Vị biển
Ảnh minh họa
Hạnh phúc nhỏ nhoi và giản đơn như những con dã tràng xe cát. Những mảnh đời nương tựa vào nhau, bớt đắng cay phần nào.
Chị ngồi xuống đống rơm cạnh chuồng trâu ngày trước. Tay bó gối, mắt nhìn vào khoảng lặng hư vô trong ngôi nhà mộc mạc còn giữ lại những nét thô sơ từ quá khứ, nhớ về những ngày thơ ấu bình yên đã qua sau bao năm trôi dạt làm dâu xứ lạ.
Mới chớm tuổi xuân xanh, chị về làm dâu nhà người. Đêm tân hôn, nằm cạnh chồng, thấy cái giường rộng thênh thênh, cánh tay vẫn dang ra cho chị gối đầu nhưng sao trông lỏng lẻo và yếu ớt. Chị chủ động rủ chồng ngủ cùng nhưng anh luôn viện cớ mệt để lảng tránh lên giường cùng lúc. Trăn qua trở lại đến gần sáng, chịu hết nổi, chị ngồi bó gối, cảm giác cuộc đời mình đã trôi vào cõi xa xăm, bất tận nào đó...
Thời gian trôi dài, trôi mãi. Mẹ chồng nói xa nói gần, đay nghiến, đổ tiệt tại con dâu gieo tai ương. Sau mỗi lần họp họ, bà lại thốt lên những lời cay độc: "Con đàn bà vô phúc. Đồ đàn bà không biết đẻ …".
Lớn tiếng chì chiết chưa đủ, bà quay qua quát mắng con trai: "Bỏ ngay, tiếc gì con đàn bà ấy. Biết ăn, biết mặc, mưa nắng biết vào nhà mà không biết đẻ!".
Anh chồng bênh mẹ, cố lấp liếm đi cái khiếm khuyết bản thân, quát: "Ngữ như cô dòng họ nhà này xưa nay không chấp nhận. Đi đi!".
Tức nước bờ vỡ, con tim tổn thương không kiềm chế được, chị bật lại: "Tại sao các người không chịu hiểu? Tại sao cứ đổ vấy cho tôi! Căn nhà này có bao giờ tôi được nói? Đi thì đi. Tôi sẽ đi!".
Nhận cú tát như trời giáng, cổ áo chị loang loáng máu, trào từ miệng, từ mũi xuống. Sau cú tát, hắn gầm lên, hung dữ: "Cút! Đi mau khỏi nhà tao!".
Hôn nhân không tình yêu đỗ vỡ bắt đầu từ đó. Nơi đó là nơi kết thúc, cũng là nơi khởi đầu cho hành trình giải thoát.
Chị gửi đơn ly hôn lên tòa, khăn gói về lại quê nghèo. Cha mẹ đã theo tổ tiên, chỉ còn có mình chị. Chị chợt nhận ra, người mà chị nợ nhiều nhất lại là chính mình. Nợ mình giấc ngủ thật sâu, để không còn những đêm suy nghĩ đến kiệt sức. Nợ mình một cuộc sống tử tế hơn, những ngày được sống nhẹ lòng, không phải gồng mình để mạnh mẽ, một niềm vui không cần lý do, một hạnh phúc không phải vay mượn từ ai…
Bên kia triền đê, tiếng chuông chùa vẫn bình thản ngân lên. Nhẹ nhàng. Thoát tục.
***
Chị tỉnh dậy trong mùi khói bếp cay nồng. Thằng Sứt lóng ngóng bưng bát cháo hành nóng hổi:
- O ăn đi cho ấm bụng. Cha bảo o cứ ở tạm, khỏe rồi hẵng đi.
Tiếng "o" ngây ngô như một mồi lửa nhỏ ném vào khối băng trong lòng chị. Chị ở lại. Chị không đi đâu nữa, bởi cũng chẳng còn nơi nào để về. Và cũng vì cái cách cha con ông nhìn chị không tò mò, không phán xét, chỉ có sự bao dung của một người cũng đã đi qua quá nửa đời giông bão.
Chị dạt về xóm Bụa cũng bé mọn và mong manh như bọt sóng ngoài khơi. Đêm đó, khi trăng lưỡi liềm treo lơ lửng như một vết chém trên nền trời, chị bước xuống biển. Chị muốn tan vào sóng, muốn đại dương vỗ về những tủi nhục mà người đời đã ném vào chị. Nước dâng lên đến ngực, đến cổ, rồi trùm qua đỉnh đầu.
Nhưng biển không nhận chị. Hay đúng hơn, cha con anh Hến không để biển làm điều đó.
Anh Hến góa vợ đã lâu, sống cùng thằng Sứt trong căn nhà lá sát mép sóng. Đang kéo mẻ lưới đêm muộn, cha con ông thấy cái bóng trắng dập dềnh. Chẳng kịp suy nghĩ, anh lao xuống, sải cánh tay gân guốc xé toạc màn đêm lôi chị lại với cõi đời.
Những ngày ở xóm Bụa cứ thế chảy trôi theo con nước ròng nước kém. Chị chấp nhận làm vợ, làm mẹ, làm một người đàn bà của biển, nép mình dưới mái lá đơn sơ. Đôi tay bắt đầu thạo việc, chị học cách đan lưới, học cách muối cá, học cả cách phập phồng chờ đợi chồng con trở về sau mỗi chuyến biển dài. Căn nhà nhỏ nằm sát mép nước vốn lạnh lẽo bởi vị muối, nay bỗng nồng đượm hơi người. Sự tần tảo cùng tiếng cười trong veo của thằng Sứt đã thắp lên một đốm lửa ấm, sáng bừng cả một góc xóm nghèo hiu hắt.
Hạnh phúc nhỏ nhoi và giản đơn như những con dã tràng xe cát. Những mảnh đời nương tựa vào nhau, bớt đắng cay phần nào.
***
Đường chân trời xám xịt sau cơn bão trái mùa. Biển trầm tư, xanh thẫm, bí ẩn. Con sóng dịu êm, nhè nhẹ vỗ bờ khiến người ta dễ quên đi cơn thịnh nộ vừa quét qua, để lại làng chài xơ xác với những hàng phi lao trơ gốc, xác những chiếc thuyền mủng nằm lăn lóc trên đám rau muống biển. Dọc dài bờ biển cỏ cây xơ xác, ngấn bùn còn in vết. Từ hang sâu, đôi chú còng ngoi lên bò lồm cồm trên cát.
Trời chập choạng tối, gió bắt đầu rít. Mưa lại rơi, hạt nặng dần. Chị buồn bã ngồi bên cửa sổ nhìn ra ngoài, chốc chốc lại nhìn vào điện thoại như chờ đợi điều gì. Hôm nay, cái vị mặn trong gió nồng hơn mọi ngày, không chỉ là mùi của muối mà là mùi hoàn lưu bão đang luẩn quẩn đâu đó ngoài khơi xa. Làng chài này đã nuôi nấng chị, cũng là nơi chị gửi gắm niềm tin dưới những lớp sóng bạc đầu. Biển không có vị ngọt. Biển chỉ có vị mặn của mồ hôi, vị chát của nước mắt và vị tanh nồng của những mẻ cá đầy vơi. Với chị giờ đây, biển thinh lặng đáng sợ.
Bên mé nước, chị ngồi đó, vốc từng nắm cát ướt để chúng chảy tràn qua kẽ tay, mắt dõi theo những chiếc tàu dầu mịt mờ ngoài khơi xa. Bất chợt, chị lao xuống biển, chuồi thân hình mềm mại vào những con sóng lấp lánh như muôn triệu hạt thủy tinh đang tan ra. Chị bơi như muốn hòa tan vào lòng nước, như thể đó là cách duy nhất để chị chạm được vào hơi ấm của những người đã khuất.
Biển lặng, rồi biển lại cuồng điên, muôn đời vẫn vậy, vĩnh cửu, vô tri. Còn chị thì hữu hạn với nỗi đau như xé lòng. Ngày chồng và con trai đi mãi, chỉ nghe nói vậy thôi chứ nào có biết rõ ngọn nguồn. Người trên tàu biệt vô âm tính, lấy ai mà báo về. Nghe đâu đánh bắt vùng biển nước bạn bị bắt, bị đánh chìm, cũng nghe đâu gặp gió giông bão tố gì đó.
Chợ Bụa vẫn họp, vẫn kẻ mua người bán, vẫn kể cho nhau nghe về những người con của biển đi mãi không về. Căn nhà lá sát mép nước giờ chỉ còn là một khoảng trống mênh mông, sóng vẫn vỗ êm đềm bờ cát. Và chị vẫn đứng đó, mòn mỏi đợi chờ ...
***
Những tia nắng đầu tiên chưa kịp xuyên qua lớp sương mù dày đặc trên mặt biển, một vệt đen mờ ảo xuất hiện nơi đường chân trời. Tiếng máy nổ đứt quãng rồi rõ dần. Chị đứng phắt dậy, tim đập loạn nhịp đến mức lồng ngực như thắt lại. Cả làng chài bắt đầu xôn xao. Những người đàn bà chạy ra mé nước, hơi thở dồn dập:
"Tàu về! Có tàu về!"
Chiếc tàu mang số hiệu quen thuộc, dù nước sơn đã bong tróc và mạn thuyền đầy vết sẹo của giông bão đang lướt tới. Trên boong, lố nhố bóng những người đàn ông với khuôn mặt sạm đen vì nắng cháy.
"Hến ơi! Sứt ơi!". Tiếng kêu xé toạc không gian, tan vào gió. Chị lao xuống nước, như để đón lấy sự sống đang hiện hữu bằng xương bằng thịt. Nước biển tràn vào miệng, chát đắng.
Họ đã trở về. Chuyến tàu ấy đã bị bão đánh dạt vào một hòn đảo hoang vắng ngoài vùng lãnh hải, máy móc hư hỏng, liên lạc bị cắt đứt. Họ đã sống sót bằng ý chí sắt đá những người con của biển, chờ từng ngày để sửa chữa, đợi gió lặng để tìm đường về nhà.
Anh ôm chầm lấy chị, nồng nặc mùi mồ hôi, mùi dầu máy và mùi của đại dương bao la. Sứt nắm lấy vạt áo mẹ, khóc nấc lên: "Mẹ ơi, con về rồi! Bố bảo mẹ nhất định đang đợi nên bố con con không thể bỏ cuộc."
Buổi chiều hôm ấy, biển thật hiền. Cơn bão trái mùa thực sự đã lùi xa, để lại một bầu trời trong vắt như được gột rửa, nơi mùi hoa bưởi vườn nhà ai vương vít theo gió bay ra, như ước vọng một cuộc sống bình yên. Quệt mồ hôi chảy ngang trán, chị ngước lên nhìn những khóm lá xanh non ướt mượt nước mưa, nhú lên từ đêm qua, run rẩy, yếu ớt. Chị khẽ cười. Cũng như những chiếc lá già trong cơn mưa bão đã bứt khỏi cành cây, gieo xuống đất, kết thúc một hành trình đầy kiêu hãnh...
Những tia nắng hiếm hoi sau kỳ mưa bão bắt đầu tỏa ra, trải nhẹ khắp nơi. Đêm đó, xóm Bụa không ngủ. Biển vẫn mặn, gió vẫn nồng, và biển có vị ngọt của sự hồi sinh.