Truyện ngắn: Bóng trăng dưới chân cầu ao
Hình minh họa
Đa lớn lên trong căn chòi nhỏ neo người bên cánh sông buồn. Căn nhà nhỏ của hai bà cháu càng về đêm càng yên tĩnh. Có lẽ ánh đèn dầu kêu tí tách và tiếng chén đũa của bữa cơm chiều muộn là thanh âm duy nhất trong nhà. Thi thoảng vào những ngày có mưa rơi, tiếng lộp bộp rơi trên mái nhà như thấm ướt vào bức tường cỏ lại tạo thêm được những điệu nhạc vui tai.
Người ta thường sẽ buồn khi nhìn thấy mưa, còn với gia đình neo người như của nó, mưa lại làm không khí thêm nhộn nhịp lên một chút. Được một chốc, bà An ngẩng đầu lên như sực nhớ điều gì:
- Bận bây nói nay có kết quả thi, rồi ra sao?
Đa nhanh nhảu đứng bật dậy khỏi tấm phản, chạy ra chái bếp sau nhà, nơi để lẫn cái cặp của nó với cái mớ tôm chiều tan học về nó hẩy vội để đặng ăn bữa ngày mai, lục tung lấy ra các bài kiểm tra, chạy lên khoe:
- Tất cả đều 9, 10 nhưng toán khó quá ngoại, con chỉ được 8.
Bà An gật gù, cầm coi kỹ, gật đầu nhẹ rồi gắp cho nó miếng cật cá. Đó là món Đa thích nhất nên nó hiểu bà đang ngầm thưởng cho nó. Chỉ thế cũng khiến nó vui cả tối.
Năm lên 10, bà An nói nó không phải cháu ruột của bà. Trong một lần chài lưới ở cuối sông, khi đang chèo thuyền qua rặng dừa nước, bà nghe tiếng khóc. Cái hình hài nhỏ bé ấy khiến bà cầm lòng không đặng, đem về nuôi tự bấy đến giờ.
Người phụ nữ hơn 50 khi ấy chưa một đời chồng bỗng rước một đứa trẻ, ai nấy đều ngăn cản, sợ bà lại mệt nhọc tuổi về già. Sau một thời gian cố gắng tìm cha mẹ ruột cho thằng bé không thành, bà lên chính quyền làm các thủ tục pháp lý để nhận nuôi Đa như con cháu. Ngày làm việc, đêm về bà chạy khắp xóm xin sữa nuôi Đa...
Làng chài nơi bà sống nghèo lắm, ăn hôm nay phải nghĩ tới ngày mai, không ai đủ dư dả để nuôi một đứa nhỏ không cùng máu thịt. Bà dẫn Đa về cuối làng, dựng một căn nhà nhỏ, ngày gùi đi làm, tối đến chăm nom. Đa rất quấn bà, ai đụng vào cũng quấy khóc nhưng trong vòng tay bà lại im bặt, uống sữa rất ngoan. Bà còn hay ghé qua nhà mấy chị có con nhỏ trong làng học cách chăm trẻ. Ai cũng can:
Lại không phải con mình. Thương thì đặng đem lên trên phường, làm giấy tờ vô cô nhi viện tạm.
Nghe họ khuyên, bà chỉ cười xòa phẩy tay. Thương hai bà cháu, những người mẹ có con nhỏ lại cho sữa, dạy bà học hò, học hát ru, trông chừng đứa nhỏ…
Đa còn nhớ, hôm đó, khi hai bà cháu đang trên con ghe kéo mẻ lưới cuối cùng để về nấu cơm. Ráng chiều sụp xuống cùng với lời nói rất nhỏ thậm chí còn không thèm nhìn nó của bà:
- Đa này, bây không phải cháu ruột của tao đâu.
- Con biết mà, mọi người nói với con rồi.
Bà có chút ngỡ ngàng, có chút tức giận, nhưng cũng nhẹ lòng khi thấy nó đã chuẩn bị sẵn sàng tinh thần.
Đa đã cảm nhận qua cách mọi người gọi nó. Hàng xóm đôi khi cho miếng bầu, mẩu bí hay tặc lưỡi:
- Bà An khổ vì mày lắm nha Đa...
Tiếng ít tiếng nhiều cũng đủ góp thành câu chuyện, nó cũng dần hiểu ra thân phận mình. Nó không buồn vì nó biết bà nó thương nó và nó là cháu của bà.
Năm nó vào cấp ba, cơn lũ về gần như cuốn sạch tất cả của gia đình nhỏ ven sông. Ngày tựu trường đến gần, trăm thứ tiền đè nặng trên vai bà, nhờ hàng xóm và chính quyền hỗ trợ, căn nhà lá tạm bợ lại được dựng lên nhưng tiền để dành đã theo lũ mà trôi đi hết. Đa quyết định nghỉ học nhưng bà nhất quyết không cho, xoay xở thế nào đến bữa nộp tiền học cũng dấm dúi đưa nó đủ. Nó rưng rưng nước mắt khi nhìn bà:
Bà, đôi bông của bà đâu rồi?
Bà phẩy tay quay đi, đuổi nó đi học...
Đa cũng nhớ rõ trong một lần trời mưa to, nó cùng đám bạn đi tắm sông rồi cả đám sém bị đuối nước, may được mấy cô chú đi ngang qua cứu được. Vừa đặng nghe tin, bà đương buổi chợ như người mất hồn lập tức chạy đến cánh sông hớt hải:
- Thằng Đa cháu tôi, ai cứu nó với... Trời ơi, nó đâu rồi?
Nhưng ngay khi vừa thấy nó vẫn yên ổn bà vội quay đi giấu những giọt nước mắt. Khi người ta khuyên bà nên nhỏ nhẹ vì nó cũng vừa thoát khỏi nguy hiểm đang kinh động, bà chỉ im lặng đứng nấc lên và tát nó một cái thật mạnh.
Rồi nó lên phố học đại học, tốt nghiệp, lấy vợ. Ngày nó cưới, bà dấm dúi đưa cho nó cái kiềng, nói như dửng dưng:
- Để dành lâu nay rồi, cháu trai lớn cũng phải cho tiền cưới vợ. Trách nhiệm cả thôi.
Bà vẫn luôn tỏ ra lạnh lùng với nó, nhưng nó hiểu, mỗi đoạn đường đời của nó đều có sự yêu thương và hy sinh của bà.
***
Sau khi lập gia đình, Đa chuyển hẳn lên thành phố sống. Đa muốn rước bà lên ở cùng nhưng bà từ chối. Bà không muốn rời xa nơi mình đã sinh sống cả đời.
Được ít năm, Đa sinh cháu, cả gia đình dắt díu về quê ở. Ban đầu nói là để thuận tiện cho hít thở không khí trong lành, mua một căn nhà nhỏ dưới quê, nói là để về nghỉ cuối tuần. Nhưng rồi hết năm vẫn không thấy đi, hỏi mãi Đa mới nói:
Công việc của con là làm online, hai vợ chồng con bàn với nhau cả rồi, muốn ở dưới quê luôn cùng bà.
Bà giận. Bà nghĩ ở phố sẽ có nhiều cơ hội thăng tiến hơn. Đa phải dành rất nhiều ngày để giải thích về công việc online của mình. Nói nơi ở không quan trọng, từ đây lên phố nếu có việc cũng gần. Vợ Đa cũng là người hiểu chuyện, chính cô khuyên chồng nên dọn về ở với bà, bà đã hy sinh cả cuộc đời cho anh để rồi khi về già lại cô độc.
Dần dần bà cũng xuôi. Ngày tháng trôi qua, nhìn đứa cháu nội đang từng ngày lớn dần lên, bắt đầu chập chững đi từng bước đầu tiên, trông cứ hệt như Đa những ngày đầu tập đi, bà nghẹn ngào xúc động. Một lần nữa tình thương không thể định nghĩa được lớn dần trong bà, nhất là khi thằng cháu nói được tiếng đầu tiên, lại là bập bẹ hai chữ: "Bà cố".
Cháu dâu bà nhanh chóng thích nghi với cuộc sống ở quê. Cô không ngừng nói với bà về xu hướng giới trẻ bỏ phố về quê tìm một nơi tĩnh tại mà sống, thoát khỏi xô bồ. Công việc của hai người cũng thuận tiện với cuộc sống nơi đây, thời đại internet mọi nơi đều có thể là nhà.
Đêm đến, khi chỉ còn hai bà cháu ngồi bên cầu ao quen thuộc, Đa nhẹ tựa đầu vào vai bà như ngày còn bé. Dưới bóng nước in hình hai mái đầu đang tựa vào nhau, êm đềm đánh động cả ánh trăng…