Xem thêm thông tin của Báo PNVN trên
Phụ nữ Việt Nam
MỚI NHẤT ĐỘC QUYỀN MULTIMEDIA CHUYÊN ĐỀ
30/01/2026 - 18:52 (GMT+7)

Virus Nipah: Khó bùng nổ thành đại dịch nhưng vẫn là mối đe dọa lớn

Thành Nam
Virus Nipah: Khó bùng nổ thành đại dịch nhưng vẫn là mối đe dọa lớn

Ảnh minh họa

Người bị nhiễm virus Nipah có tỷ lệ tử vong cao, biểu hiện lâm sàng phức tạp, chưa có vắc xin và thuốc điều trị đặc hiệu, cùng nguy cơ lây nhiễm cho nhân viên y tế. Dù khó có khả năng gây đại dịch như COVID-19, song các chuyên gia cảnh báo không thể chủ quan với loại virus này.

Mức độ tử vong cao

Trả lời PV Báo Phụ nữ Việt Nam, PGS.TS.BS Đỗ Duy Cường, Viện trưởng Viện Y học Nhiệt đới Bệnh viện Bạch Mai cho biết, virus Nipah lần đầu được ghi nhận trong đợt bùng phát tại Malaysia và Singapore năm 1999, với 265 ca mắc và 105 ca tử vong, tỷ lệ tử vong lên tới 40%. Sau đó, bệnh tiếp tục xuất hiện tại Bangladesh từ năm 2001 và gần như hằng năm đều có các đợt bùng phát nhỏ lẻ tại quốc gia này. Nipah cũng được xác định định kỳ ở miền đông Ấn Độ.

Dù sau gần 30 năm, virus Nipah chưa từng bùng phát thành đại dịch quy mô toàn cầu nhưng WHO vẫn xếp Nipah vào nhóm các mầm bệnh đặc biệt nguy hiểm, có nguy cơ gây khủng hoảng y tế nếu không được giám sát chặt chẽ.

Theo PGS.TS.BS Đỗ Duy Cường, mức độ nguy hiểm lớn nhất của Nipah không nằm ở tốc độ lây lan mà nằm ở tỷ lệ tử vong rất cao. “Mặc dù lây lan chậm hơn nhiều bệnh truyền nhiễm khác, nhưng tỷ lệ tử vong do Nipah có thể dao động từ 40–75%, tức là cứ 2 người mắc thì có thể có 1 người tử vong. Mức độ này tương đương cúm gia cầm và cao hơn nhiều bệnh truyền nhiễm nguy hiểm khác như tả, dịch hạch, COVID-19 hay viêm màng não do não mô cầu”.

Một yếu tố khiến Nipah khó có khả năng gây đại dịch là đặc điểm lây truyền khác với các bệnh lây mạnh qua đường hô hấp như COVID-19. Hệ số lây nhiễm (R0) của Nipah hiện được ghi nhận ở mức thấp, khoảng 0,3–0,7, thấp hơn rất nhiều so với COVID-19. Điều này đồng nghĩa với việc virus không dễ lan rộng trong cộng đồng với tốc độ nhanh.

Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo, virus là thực thể sinh học có khả năng biến đổi. Hệ số lây nhiễm không phải là con số cố định. “Không thể loại trừ khả năng virus biến đổi làm thay đổi đặc tính lây truyền trong tương lai. Vì vậy, việc giám sát dịch tễ liên tục là yếu tố sống còn”, PGS.TS Cường chia sẻ với PV báo Phụ nữ Việt Nam.

Một mối nguy khác là nguy cơ lây nhiễm trong môi trường y tế. Khi một bệnh vừa lây qua đường hô hấp, vừa lây qua tiếp xúc, dịch tiết cơ thể, nguy cơ đối với nhân viên y tế là rất lớn. Nếu không có hệ thống bảo hộ cá nhân và quy trình kiểm soát nhiễm khuẩn chặt chẽ, lực lượng tuyến đầu có thể trở thành nạn nhân của chính dịch bệnh.

Virus Nipah: Khó bùng nổ thành đại dịch nhưng vẫn là mối đe dọa lớn- Ảnh 1.

PGS.TS.BS Đỗ Duy Cường, Viện trưởng Viện Y học Nhiệt đới Bệnh viện Bạch Mai

Đáng chú ý, việc xét nghiệm và nghiên cứu virus Nipah đòi hỏi điều kiện an toàn sinh học cấp cao nhất (BSL-4) – mức cao nhất trong phân loại an toàn sinh học. Đây là điều mà nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, chưa có đầy đủ hạ tầng phòng thí nghiệm chuyên biệt, gây khó khăn cho việc chẩn đoán, nghiên cứu và giám sát chủ động.

Hiện nay, chưa có vắc xin phòng bệnh, chưa có thuốc điều trị đặc hiệu cho những người nhiễm virus Nipah. Chủ yếu vẫn là điều trị hỗ trợ, hồi sức, chăm sóc triệu chứng và hỗ trợ đa cơ quan. Sau khi khỏi bệnh, nhiều người vẫn phải đối mặt với các di chứng thần kinh và sức khỏe lâu dài.

Đường lây phức tạp, bệnh cảnh đa dạng

Virus Nipah là bệnh lây truyền từ động vật sang người (zoonotic), với vật chủ tự nhiên là dơi ăn quả. Từ dơi, virus có thể lây sang lợn thông qua thức ăn, hoa quả nhiễm dịch tiết, sau đó lây từ lợn sang người qua tiếp xúc, giết mổ, tiêu thụ sản phẩm nhiễm bệnh. Đồng thời, virus cũng có thể lây trực tiếp từ người sang người qua đường hô hấp, tiếp xúc trực tiếp, dịch tiết cơ thể và trong quá trình chăm sóc bệnh nhân tại cơ sở y tế.

Theo PGS.TS.BS Đỗ Duy Cường, chính chu kỳ lây nhiễm đa tầng này khiến Nipah trở thành mối đe dọa nghiêm trọng đối với sức khỏe cộng đồng. “Nipah không chỉ là vấn đề của y tế con người, mà còn là vấn đề của động vật, môi trường và sinh thái. Nó liên quan đến dơi, lợn, thực phẩm, nguồn nước, tập quán sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp và cả môi trường bệnh viện. Vì vậy, không thể kiểm soát Nipah chỉ bằng riêng ngành y tế”- ông Cường nhấn mạnh.

Đây cũng là lý do mô hình “One Health” - phối hợp liên ngành giữa y tế, thú y, môi trường, nông nghiệp và quản lý sinh thái được xem là hướng tiếp cận bắt buộc trong phòng chống các dịch bệnh mới nổi.

Về lâm sàng, Nipah là bệnh rất khó nhận diện. Biểu hiện bệnh đa dạng, không điển hình, dễ nhầm lẫn với các bệnh thông thường như sốt, đau đầu, đau cơ, ho, viêm đường hô hấp, tiêu chảy, nôn. Nhiều trường hợp diễn biến nhanh sang viêm não, màng não với các biểu hiện như rối loạn ý thức, co giật, hôn mê, tỷ lệ tử vong rất cao.

Hình ảnh chụp não thường chỉ thấy các tổn thương nhỏ, rải rác, không đặc hiệu, gây khó khăn cho chẩn đoán sớm. Thời gian ủ bệnh trung bình 4–14 ngày cũng làm gia tăng nguy cơ lây lan âm thầm trong cộng đồng trước khi phát hiện ca bệnh.

Virus Nipah: Khó bùng nổ thành đại dịch nhưng vẫn là mối đe dọa lớn- Ảnh 2.

Virus Nipah có đường lây phức tạp và bệnh cảnh đa dạng

Theo PGS.TS.BS Đỗ Duy Cường, virus Nipah hiện chưa phải là mối đe dọa tức thì nhưng tuyệt đối không thể lơ là. “Không chủ quan, nhưng cũng không hoang mang. Cách tiếp cận đúng là cảnh giác khoa học, giám sát dịch tễ chặt chẽ, chuẩn bị hệ thống y tế, tăng cường năng lực xét nghiệm, bảo vệ nhân viên y tế và truyền thông đúng cho cộng đồng”- ông Cường chia sẻ.

Trong bối cảnh các bệnh truyền nhiễm mới nổi ngày càng gia tăng, Nipah là lời cảnh báo rõ ràng rằng: không phải mầm bệnh nào cũng gây đại dịch, nhưng bất kỳ mầm bệnh nào cũng có thể trở thành thảm họa y tế nếu thiếu chuẩn bị, giám sát và kiểm soát khoa học, bài bản.

Ý kiến của bạn
Bình luận
Xem thêm bình luận