Xem thêm thông tin của Báo PNVN trên
Phụ nữ Việt Nam
MỚI NHẤT ĐỘC QUYỀN MULTIMEDIA CHUYÊN ĐỀ

Vốn xanh: Minh bạch để dòng tiền đến đúng địa chỉ

Thùy Linh
Vốn xanh: Minh bạch để dòng tiền đến đúng địa chỉ

Tài chính xanh cần đa dạng kênh huy động, giảm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng

Việt Nam đang từng bước hoàn thiện khung pháp lý cho tài chính xanh, nhưng quy mô thị trường trái phiếu xanh, các quỹ đầu tư ESG vẫn còn khiêm tốn. Khoảng cách giữa một dự án được định danh là xanh và khả năng huy động được vốn trên thị trường đặt ra yêu cầu cấp thiết: Phải biến minh bạch thành điều kiện để dòng tiền tìm đến đúng địa chỉ.

Có tiêu chí xanh nhưng chưa đủ để tạo thị trường vốn

Một dự án năng lượng tái tạo, công trình tiết kiệm năng lượng hay mô hình nông nghiệp thân thiện với môi trường có thể đáp ứng mục tiêu phát triển bền vững. Nhưng để huy động được nguồn vốn xanh, doanh nghiệp không chỉ cần chứng minh dự án có lợi cho môi trường. Họ còn phải cho thấy hiệu quả tài chính, khả năng trả nợ và cách thức đo lường, báo cáo những tác động đã cam kết.

Đây chính là khoảng cách giữa việc xây dựng chính sách và phát triển một thị trường vốn xanh thực chất. Khi nhà đầu tư chưa có đủ thông tin để phân biệt dự án xanh với dự án chỉ được quảng bá là xanh, nguồn vốn khó mở rộng bền vững, còn doanh nghiệp làm thật cũng chưa chắc được hưởng lợi tương xứng từ những nỗ lực đầu tư.

Việt Nam đã từng bước thiết lập nền tảng pháp lý cho thị trường này. Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đặt cơ sở cho tín dụng xanh, trái phiếu xanh; Nghị định số 08/2022/NĐ-CP cụ thể hóa một số quy định liên quan. Thông tư số 17/2022/TT-NHNN, có hiệu lực từ năm 2023, yêu cầu tổ chức tín dụng quản lý rủi ro môi trường trong hoạt động cấp tín dụng.

Đáng chú ý, Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg, có hiệu lực từ ngày 22/8/2025, thiết lập danh mục phân loại xanh quốc gia với 45 loại dự án thuộc 7 lĩnh vực. Các lĩnh vực được xác định tiêu chí kỹ thuật bao gồm năng lượng, xây dựng, công nghiệp chế biến, chế tạo, dịch vụ môi trường, giao thông vận tải, tài nguyên nước, nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và bảo tồn đa dạng sinh học.

Vốn xanh: Minh bạch để dòng tiền đến đúng địa chỉ - Ảnh 1.

Việc có danh mục phân loại xanh giúp thị trường tiến thêm một bước: Xác định dự án nào có thể đáp ứng tiêu chí môi trường để được xem xét hưởng các cơ chế hỗ trợ theo quy định. Tuy nhiên, cần phân biệt rõ việc xác nhận một dự án đáp ứng tiêu chí xanh với việc chứng nhận toàn bộ sản phẩm tài chính của doanh nghiệp là xanh. Hai khái niệm này không đồng nhất.

Đối với nhà đầu tư, điều quan trọng không chỉ là dự án thuộc lĩnh vực nào, mà còn là vốn huy động được sử dụng vào đâu, kết quả môi trường được đo lường ra sao và ai chịu trách nhiệm xác minh thông tin. Nếu thiếu những mắt xích này, danh mục phân loại xanh mới chỉ giải quyết được câu hỏi về điều kiện ban đầu, chưa đủ bảo đảm chất lượng của dòng vốn trong suốt vòng đời dự án.

Trong khi đó, tín dụng ngân hàng vẫn là kênh cung cấp vốn xanh chủ yếu. Dư nợ tín dụng xanh tăng từ khoảng 19 tỷ USD năm 2021 lên 32 tỷ USD năm 2025, nhưng mới tương đương 4,6% tổng dư nợ toàn hệ thống. Năng lượng tái tạo chiếm 37%, nông nghiệp xanh chiếm 29%, phần còn lại thuộc các hoạt động khác.

Những con số này cho thấy nguồn vốn xanh đã tăng trưởng, song quy mô vẫn còn khoảng cách so với nhu cầu chuyển đổi của nền kinh tế. Khi phần lớn nguồn lực vẫn dựa vào hệ thống ngân hàng, yêu cầu đặt ra là phải mở rộng thêm các kênh huy động vốn trung và dài hạn, trong đó có thị trường trái phiếu doanh nghiệp xanh và các quỹ đầu tư bền vững.

Trái phiếu xanh: Không chỉ cần vốn rẻ, mà cần niềm tin

Tại phiên thảo luận tổ 4, gồm các đoàn Đồng Nai, Điện Biên và Quảng Trị, trong khuôn khổ Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, chiều 17/10, đại biểu Lê Nữ Thùy Dương, đoàn Đồng Nai, đề xuất bổ sung chính sách khuyến khích phát triển trái phiếu doanh nghiệp xanh nhằm mở rộng kênh huy động vốn trung và dài hạn. Đại biểu đồng thời kiến nghị bổ sung quy định nền tảng về chứng khoán hóa khoản nợ, phù hợp với Nghị quyết số 68-NQ/TW.

Đề xuất này đặt ra một vấn đề lớn hơn việc bổ sung công cụ tài chính: Làm thế nào để thị trường trái phiếu xanh trở thành kênh dẫn vốn có quy mô đủ lớn, thay vì chỉ xuất hiện trong một số thương vụ riêng lẻ?

Theo số liệu trong bản thảo, dư nợ trái phiếu xanh, xã hội, bền vững và các công cụ liên quan của Việt Nam năm 2025 đạt khoảng 1,1 tỷ USD, tương đương 0,2% GDP. Con số này thấp hơn đáng kể so với Singapore, Thái Lan, Malaysia, Indonesia và Philippines, với quy mô được ghi nhận lần lượt là 33,2 tỷ USD, 36,4 tỷ USD, 19,6 tỷ USD, 17,8 tỷ USD và 16 tỷ USD.

Vốn xanh: Minh bạch để dòng tiền đến đúng địa chỉ - Ảnh 2.

Tuy nhiên, so sánh quy mô chỉ phản ánh một phần bức tranh. Khả năng phát triển thị trường còn phụ thuộc vào cấu trúc sản phẩm, nhu cầu của nhà đầu tư, chất lượng doanh nghiệp phát hành, mức độ phát triển của thị trường vốn và cơ chế quản lý rủi ro. Vì vậy, mục tiêu không đơn thuần là tăng số lượng thương vụ hay giá trị phát hành, mà phải xây dựng được những điều kiện để nhà đầu tư sẵn sàng rót vốn trong thời gian dài.

Hiện trái phiếu xanh trong nước chủ yếu được phát hành trên cơ sở tự nguyện, tham chiếu các nguyên tắc của Hiệp hội Thị trường vốn quốc tế (ICMA). Một số thương vụ có đánh giá độc lập, xếp hạng tín nhiệm và bảo lãnh. Các giao dịch được giới thiệu có kỳ hạn 7-20 năm, trong khi kỳ hạn bình quân của trái phiếu thông thường vào khoảng 3 năm; lãi suất danh nghĩa được nêu trong khoảng 5,58-8,1%/năm.

Kỳ hạn dài có thể giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong việc bố trí nguồn vốn cho các dự án cần thời gian thu hồi vốn. Nhưng mức lãi suất danh nghĩa chưa phản ánh toàn bộ chi phí huy động, bởi doanh nghiệp còn có thể phải chi trả phí bảo lãnh, tư vấn, đánh giá độc lập và những chi phí liên quan khác.

Với doanh nghiệp, bài toán vì thế không chỉ là tìm nhà đầu tư mà còn là cân đối giữa lợi ích huy động vốn dài hạn và chi phí đáp ứng các tiêu chuẩn xanh. Doanh nghiệp cần chuẩn bị hồ sơ dự án, hệ thống đo lường tác động môi trường, nhân sự chuyên môn và cơ chế báo cáo minh bạch. Nếu thiếu năng lực này, ngay cả dự án có tiềm năng cũng có thể gặp khó khi tiếp cận thị trường vốn xanh.

Ngược lại, nếu các tiêu chí được chuẩn hóa, chi phí tuân thủ được hợp lý hóa và cơ chế đánh giá độc lập phát triển, doanh nghiệp có cơ hội tiếp cận tập nhà đầu tư rộng hơn. Khi đó, minh bạch không chỉ là nghĩa vụ công bố thông tin mà còn trở thành một điều kiện cạnh tranh để huy động vốn.

Minh bạch để ngăn dòng vốn bị gắn nhãn xanh sai lệch

Trên thị trường tài chính quốc tế, các công cụ đầu tư bền vững đã phát triển với quy mô lớn. Năm 2025, tổng giá trị phát hành trái phiếu và khoản vay bền vững được nêu ở mức khoảng 1.800 tỷ USD, gồm 1.010,3 tỷ USD trái phiếu và 798,1 tỷ USD khoản vay. Giá trị phát hành lũy kế các công cụ nợ bền vững vượt 10.000 tỷ USD vào cuối năm.

Trong số các tổ chức phát hành năm 2025, 96% tham chiếu nguyên tắc ICMA và 83% lượng phát hành có nhãn phù hợp tiêu chí Climate Bonds, theo số liệu được dẫn trong bản thảo.

Khi thị trường mở rộng, một rủi ro cũng trở nên rõ ràng hơn: Doanh nghiệp hoặc sản phẩm đầu tư có thể sử dụng thông điệp xanh, bền vững để thu hút vốn nhưng danh mục đầu tư hay kết quả thực tế không tương xứng với những gì đã công bố. Hiện tượng này thường được gọi là "tẩy xanh".

Vốn xanh: Minh bạch để dòng tiền đến đúng địa chỉ - Ảnh 3.

Vấn đề không chỉ nằm ở tính chính xác của một bản báo cáo. Nếu nhà đầu tư không thể kiểm chứng những cam kết môi trường, niềm tin đối với các sản phẩm tài chính xanh có thể suy giảm. Những doanh nghiệp thực sự đầu tư cho chuyển đổi cũng có nguy cơ bị đánh đồng với các đơn vị chỉ chú trọng hình ảnh, khiến chi phí tạo dựng niềm tin của toàn thị trường tăng lên.

Bởi vậy, công bố thông tin ESG cần đi xa hơn những mô tả định tính như cam kết giảm phát thải, bảo vệ môi trường hay phát triển bền vững. Thông tin phải có chỉ tiêu đo lường, phương pháp xác định, phạm vi dữ liệu và cơ chế đối chiếu. Đối với sản phẩm huy động vốn xanh, việc công bố cần gắn với mục đích sử dụng vốn, tiến độ phân bổ, kết quả đạt được và những thay đổi nếu dự án không thực hiện đúng kế hoạch.

Ở Việt Nam, Thông tư số 96/2020/TT-BTC cùng các quy định sửa đổi đã yêu cầu doanh nghiệp đại chúng, doanh nghiệp niêm yết công bố một số thông tin về môi trường và xã hội. Tuy nhiên, theo nội dung được nêu trong bản thảo, khuôn khổ hiện hành chưa thiết lập chuẩn công bố bắt buộc tương thích đầy đủ với các tiêu chuẩn của Hội đồng Chuẩn mực Bền vững Quốc tế (ISSB).

Khoảng trống về chuẩn mực khiến việc so sánh giữa các doanh nghiệp và sản phẩm đầu tư có thể gặp khó khăn. Khi mỗi đơn vị sử dụng cách xác định, đo lường và trình bày thông tin khác nhau, nhà đầu tư phải bỏ thêm nguồn lực để thẩm định. Đây là một trong những chi phí có thể làm giảm sức hấp dẫn của thị trường, đặc biệt đối với các nhà đầu tư tổ chức cần quy trình đánh giá nhất quán.

Dù vậy, minh bạch tốt hơn cũng không đồng nghĩa dòng vốn sẽ tự động tăng mạnh. Năm 2024, tỷ trọng tài sản quỹ ESG trong tổng tài sản quỹ nội địa tại Malaysia đạt 1,35%, Trung Quốc 1,23%, Nhật Bản 1,16%, trong khi Việt Nam ở mức 0,44%. Những con số này cho thấy quy mô quỹ đầu tư bền vững còn phụ thuộc vào hệ sinh thái sản phẩm, nhu cầu của nhà đầu tư tổ chức, chất lượng tài sản và khả năng đáp ứng yêu cầu đầu tư.

Khi hoạt động gắn nhãn xanh mở rộng từ trái phiếu, quỹ đầu tư sang cổ phiếu, yêu cầu phân định càng trở nên quan trọng. Một số sở giao dịch như Nasdaq, B3 Brazil và SIX Thụy Sĩ đã phát triển các cơ chế liên quan đến nhận diện doanh nghiệp hoặc sản phẩm gắn với tiêu chí bền vững. Chẳng hạn, theo tiêu chí Nasdaq được nêu trong bản thảo, doanh nghiệp mang nhãn xanh cần có trên 50% doanh thu và đầu tư từ hoạt động xanh, doanh thu từ nhiên liệu hóa thạch dưới 5% và công bố các chỉ số môi trường.

Điều cốt lõi không nằm ở việc có thêm một nhãn xanh trên thị trường, mà ở khả năng giải thích rõ nhãn đó dựa trên tiêu chí nào, được kiểm tra bởi ai và có thể bị xem xét lại trong trường hợp nào. Một hệ thống phân loại đáng tin cậy phải giúp nhà đầu tư phân biệt được các mức độ đóng góp môi trường khác nhau, thay vì biến tài chính xanh thành một cuộc cạnh tranh về truyền thông.

Muốn hút vốn dài hạn, phải tháo gỡ cả phía cung lẫn phía cầu

Theo ông Nguyễn Quang Thuân, Chủ tịch FiinGroup và FiinRatings, phát triển tài chính xanh không chỉ phụ thuộc vào nguồn cung vốn mà còn ở khả năng hấp thụ vốn của dự án và hạ tầng thông tin thị trường.

Đây là điểm cần được nhìn nhận đầy đủ khi xây dựng chính sách. Một mặt, doanh nghiệp cần nguồn vốn đủ dài để đầu tư công nghệ, chuyển đổi quy trình sản xuất và phát triển các dự án đáp ứng yêu cầu môi trường. Mặt khác, nhà đầu tư cần cơ sở đánh giá rủi ro, khả năng sinh lời và mức độ thực hiện cam kết của bên nhận vốn. Nếu một trong hai phía chưa sẵn sàng, thị trường khó phát triển tương xứng với nhu cầu.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy các thị trường không chỉ dựa vào việc ban hành tiêu chí xanh mà còn kết hợp nhiều công cụ hỗ trợ. Tại GIFT City của Ấn Độ, giá trị niêm yết lũy kế công cụ nợ mang nhãn ESG tăng từ 7,3 tỷ USD tháng 3/2022 lên 17,5 tỷ USD tháng 2/2026, theo số liệu được ông Nguyễn Quang Thuân chia sẻ. Mô hình này được gắn với cơ chế quản lý thống nhất và việc áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế.

Singapore phát triển tài chính pha trộn, kết hợp nguồn lực công, tổ chức phát triển và nhà đầu tư tư nhân. Sáng kiến FAST-P hướng tới quy mô 5 tỷ USD. Trong khi đó, Hồng Kông (Trung Quốc) chú trọng kết nối giao dịch xuyên biên giới, xây dựng danh mục phân loại tương thích và hỗ trợ chi phí phát hành, đánh giá độc lập.

Những kinh nghiệm này gợi mở rằng hỗ trợ thị trường vốn xanh không nhất thiết chỉ dừng ở ưu đãi lãi suất hay khuyến khích phát hành. Cơ chế chia sẻ rủi ro, hỗ trợ chi phí thẩm định, phát triển dịch vụ đánh giá độc lập và tăng khả năng kết nối giữa nhà đầu tư với doanh nghiệp có thể góp phần giải quyết những nút thắt thực tế.

Đối với Việt Nam, việc hoàn thiện hướng dẫn phân loại xanh cần đi cùng chuẩn hóa công bố thông tin, nâng cao chất lượng đánh giá độc lập và phát triển các công cụ huy động vốn trung, dài hạn. Cùng với đó, cần có cơ chế theo dõi sau phát hành để kiểm tra việc sử dụng vốn, đo lường kết quả môi trường và xử lý những trường hợp không thực hiện đúng cam kết.

Một thị trường vốn xanh trưởng thành không được xác định chỉ bằng số tỷ USD đã huy động hay số lượng trái phiếu mang nhãn xanh. Thước đo quan trọng hơn là vốn có đến đúng dự án, được sử dụng đúng mục đích và tạo ra tác động môi trường có thể kiểm chứng hay không.

Khi nhà đầu tư có đủ thông tin để đánh giá, doanh nghiệp có động lực thực hiện cam kết và cơ quan quản lý có công cụ giám sát, minh bạch sẽ không còn chỉ là yêu cầu tuân thủ. Đó sẽ là nền tảng để xây dựng niềm tin, giảm rủi ro phân bổ vốn và giúp dòng tiền xanh tìm đến những dự án thực sự cần thiết cho quá trình chuyển đổi của nền kinh tế.

Ý kiến của bạn
Bình luận