Xem thêm thông tin của Báo PNVN trên
Phụ nữ Việt Nam
MỚI NHẤT ĐỘC QUYỀN MULTIMEDIA CHUYÊN ĐỀ

Chi phí vốn tăng mạnh: Ngân hàng phải dùng nhiều "van" huy động hơn

Thùy Linh
Chi phí vốn tăng mạnh: Ngân hàng phải dùng nhiều "van" huy động hơn

Chi phí lãi của 27 ngân hàng niêm yết tăng 49% trong nửa đầu năm 2026

Chi phí lãi của 27 ngân hàng niêm yết tăng 49% trong nửa đầu năm 2026, nhanh hơn đáng kể tốc độ tăng thu nhập lãi. Khi tiền gửi không theo kịp tín dụng, ngân hàng phải tìm đến những nguồn vốn đắt hơn, gây thêm sức ép lên chi phí vốn và NIM.

Chi phí lãi tăng nhanh hơn thu nhập lãi

Số liệu báo cáo tài chính của 27 ngân hàng niêm yết cho thấy, 6 tháng đầu năm 2026, tổng chi phí lãi tăng 49%, lên 437.418 tỷ đồng, tăng khoảng 144.000 tỷ đồng so với cùng kỳ. Trong khi đó, thu nhập lãi chỉ tăng 33,6%.

Khoảng cách này đáng chú ý bởi chi phí vốn đang tăng nhanh hơn nguồn thu chủ lực của ngân hàng. Mỗi đồng vốn huy động và đi vay vì vậy tạo áp lực lớn hơn lên phần chênh lệch giữa thu nhập lãi và chi phí lãi. Chi phí trả lãi tiền gửi vẫn là nguồn gây sức ép lớn nhất, tăng 46,3%, lên 348.193 tỷ đồng, chiếm gần 80% tổng chi phí lãi và khoảng 77% phần tăng thêm.

Đáng chú ý hơn, tốc độ tăng mạnh nằm ở những nguồn vốn khác. Chi phí trả lãi tiền vay tăng tới 95,1%, lên 26.520 tỷ đồng; chi phí trả lãi giấy tờ có giá tăng 53,6%, lên 58.849 tỷ đồng. Trong khi đó, thu nhập lãi chỉ tăng 33,6%.

Điều này cho thấy chi phí vốn đang tăng nhanh hơn nguồn thu từ hoạt động tín dụng, tạo thêm sức ép lên biên lãi ròng (NIM). Áp lực vốn vì vậy không còn chỉ nằm ở câu chuyện ngân hàng phải trả lãi cao hơn cho người gửi tiền.

Chi phí vốn tăng mạnh: Ngân hàng phải dùng nhiều "van" huy động hơn- Ảnh 1.

Trong nhóm khảo sát, MB có chi phí lãi tăng mạnh nhất, 87,6%, lên 31.182 tỷ đồng. Nam A Bank tăng 82,8%; VPBank tăng 75,4%; NCB tăng 68,8%; TPBank tăng 68,2%; ABBank tăng 66,1%.

Tại MB, chi phí trả lãi tiền gửi tăng 90,4%, lên 21.852 tỷ đồng; chi phí lãi tiền vay tăng 189,3%, lên 2.608 tỷ đồng; chi phí trả lãi giấy tờ có giá tăng 66,4%, lên 6.615 tỷ đồng.

VPBank có tổng chi phí lãi 32.982 tỷ đồng, tăng 75,4%. Trong đó, chi phí trả lãi tiền gửi tăng 64,6%, lãi tiền vay tăng 90,7%; riêng chi phí trả lãi giấy tờ có giá tăng 120,2%, lên 4.966 tỷ đồng.

Với NCB, chi phí lãi tăng 68,8%, lên 4.817 tỷ đồng, chủ yếu do chi phí trả lãi tiền gửi tăng 70,3%.

Những diễn biến này cho thấy chi phí vốn giữa các ngân hàng đang phân hóa theo tốc độ tăng trưởng tín dụng, nhu cầu vốn và khả năng huy động. Ngân hàng càng cần nhiều vốn để mở rộng tài sản, áp lực tìm kiếm nguồn vốn thay thế càng lớn.

Vốn rẻ thu hẹp, ngân hàng phải dùng nhiều "van" huy động hơn

Diễn biến chi phí lãi tăng mạnh diễn ra trong bối cảnh lãi suất huy động đã tăng từ quý III/2025. Tại nhiều ngân hàng, lãi suất ở một số kỳ hạn tăng 3-4 điểm phần trăm trong khoảng một năm qua.

Trong khi đó, nhu cầu vốn vẫn lớn. Huy động đã cải thiện nhưng vẫn tăng chậm hơn tín dụng, khiến khoảng cách nguồn vốn tiếp tục ở mức cao. Khi tiền gửi khách hàng không tăng đủ nhanh, ngân hàng phải tìm thêm những kênh vốn khác để duy trì tăng trưởng tài sản.

Theo ông Đỗ Thanh Tùng, Trưởng phòng cao cấp Trung tâm Phân tích Công ty Chứng khoán Rồng Việt (VDSC), các ngân hàng đang tăng sử dụng những nguồn vốn khác như tiền gửi Kho bạc Nhà nước, nghiệp vụ thị trường mở, chứng chỉ tiền gửi, thay vì chủ yếu dựa vào tiền gửi từ dân cư và tổ chức kinh tế.

Một hướng khác là vay vốn nước ngoài, nhất là tại những ngân hàng có khách hàng FDI và hoạt động xuất nhập khẩu lớn. Tuy nhiên, đa dạng hóa nguồn vốn không đồng nghĩa chi phí vốn sẽ thấp hơn, bởi ngân hàng còn phải tính đến chi phí kỳ hạn, tỷ giá và hoán đổi.

Trong bối cảnh đó, CASA (tiền gửi không kỳ hạn) tiếp tục là biến số quan trọng. Tiền gửi không kỳ hạn thường có chi phí thấp hơn tiền gửi có kỳ hạn. Vì vậy, ngân hàng duy trì được CASA cao sẽ có thêm dư địa kiểm soát chi phí vốn bình quân.

Theo ông Tùng, các ngân hàng cũng đang khai thác những sản phẩm cấu trúc giữa tiền gửi và chứng chỉ tiền gửi với lợi suất hấp dẫn nhằm giữ chân và thu hút dòng tiền. Cuộc cạnh tranh huy động vì vậy không đơn thuần là ngân hàng nào trả lãi suất cao hơn, mà còn là ngân hàng nào giữ được dòng tiền trong hệ sinh thái của mình với chi phí thấp hơn.

Tại MB, Tổng giám đốc Phạm Như Ánh cho biết ngân hàng cố gắng kiểm soát chi phí vốn, trong đó duy trì CASA là một giải pháp quan trọng. Tuy nhiên, tỷ lệ CASA được đánh giá khó duy trì ở mức 36-37% như năm trước.

MB đồng thời tăng vay vốn nước ngoài, đẩy mạnh phát hành giấy tờ có giá và điều chỉnh cơ cấu kỳ hạn huy động. Cách làm này cho thấy bài toán hiện nay không chỉ là giá vốn, mà còn là kỳ hạn và khả năng tái huy động.

Nguồn vốn dài hạn có thể giúp ngân hàng ổn định thanh khoản nhưng thường có chi phí cao hơn. Ngược lại, tăng nguồn vốn ngắn hạn có thể giảm chi phí trước mắt nhưng làm tăng yêu cầu quản trị thanh khoản khi nguồn vốn đáo hạn.

Chi phí vốn khó giảm nhanh, sức ép sẽ dồn vào NIM

Chi phí vốn tăng cuối cùng sẽ phản ánh vào NIM nếu ngân hàng không thể chuyển toàn bộ phần tăng thêm sang lãi suất cho vay. Về nguyên tắc, ngân hàng có thể bảo vệ NIM bằng cách điều chỉnh lãi suất cho vay hoặc phân bổ vốn vào những tài sản có lợi suất cao hơn. Nhưng khả năng tăng giá đầu ra luôn có giới hạn bởi cạnh tranh tín dụng và sức chịu đựng của người vay.

Trường hợp VPBank cho thấy rõ bài toán này. Bà Lê Hoàng Khánh An, Giám đốc Khối Tài chính VPBank, cho biết chi phí vốn của ngân hàng cũng tăng trong bối cảnh mặt bằng lãi suất chung. VPBank đã rà soát lãi suất, tối ưu các kỳ hạn ưu đãi và chính sách cho vay, đồng thời tối ưu lãi suất ở tài sản sinh lời nhằm bảo vệ NIM ở mức 4,5%.

Với nguồn vốn quốc tế, áp lực còn đến từ chi phí hoán đổi. Theo bà An, chi phí chuyển đổi nguồn vốn trung, dài hạn vay quốc tế sang VND hiện khoảng 3-4%, dù đã giảm nhưng vẫn cao so với cùng kỳ năm trước.

Theo VDSC, tác động từ việc CASA suy giảm và tăng phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu trong quý II sẽ tiếp tục phản ánh vào chi phí vốn và mặt bằng lãi suất cho vay trong nửa cuối năm.

TCBS Research cũng đánh giá chi phí huy động khó giảm nhanh khi tiền gửi vẫn tăng chậm hơn tín dụng. Giấy tờ có giá được dự báo tiếp tục tăng nhanh hơn tiền gửi.

Đáng chú ý, kế hoạch trái phiếu cấp 2 trên 75.000 tỷ đồng mới được thực hiện một phần, trong khi khoảng 20.000 tỷ đồng trái phiếu ngân hàng đáo hạn trong nửa cuối năm cần được đảo. Theo TCBS Research, lãi suất phát hành có thể ở mức 8-10%/năm, cao hơn 3-5 điểm phần trăm so với chi phí vốn bình quân 4,8% của ngành.

Nếu tỷ trọng nguồn vốn này tiếp tục tăng, chi phí vốn bình quân sẽ chịu thêm áp lực, nhất là tại những ngân hàng có nhu cầu huy động lớn.

Ở chiều ngược lại, một số yếu tố có thể giúp hãm đà tăng. TCBS Research cho rằng lãi suất liên ngân hàng có xu hướng hạ nhiệt nhờ Ngân hàng Nhà nước hỗ trợ thanh khoản và điều hành linh hoạt. Tiền gửi khách hàng cũng cải thiện khi quý II/2026 tăng 4,8% so với quý I.

Tiền gửi Kho bạc Nhà nước quay trở lại hệ thống theo tiến độ giải ngân đầu tư công, cùng quy định LDR mới và định hướng hạn chế cạnh tranh lãi suất quá mức, cũng có thể giảm bớt áp lực. Tuy nhiên, những yếu tố này chủ yếu giúp hãm đà tăng, chưa tạo ra cơ sở để kỳ vọng chi phí vốn giảm mạnh trong thời gian ngắn.

Vì vậy, trong nửa cuối năm, ba biến số cần theo dõi là tốc độ tăng tiền gửi so với tín dụng, diễn biến CASA và tỷ trọng các nguồn vốn có chi phí cao như chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và tiền vay.

Nếu tiền gửi tiếp tục tăng chậm hơn tín dụng, ngân hàng sẽ phải sử dụng nhiều hơn các nguồn vốn thay thế. Khi đó, áp lực chi phí vốn có thể tiếp tục kéo dài.

Với ngân hàng, bài toán không chỉ là huy động được bao nhiêu tiền mà còn là huy động với giá bao nhiêu và có thể chuyển hóa nguồn vốn đó thành lợi nhuận như thế nào. Với người gửi tiền, mặt bằng huy động cao hơn tạo cơ hội hưởng lãi suất tốt hơn; trong khi với người vay, chi phí vốn đầu vào tăng có thể tạo thêm sức ép nếu mặt bằng cho vay điều chỉnh theo.

Cuộc đua huy động vì thế đang chuyển từ câu chuyện "huy động được bao nhiêu" sang "huy động bằng nguồn vốn nào và với chi phí bao nhiêu".

Ý kiến của bạn
Bình luận