Xem thêm thông tin của Báo PNVN trên
Phụ nữ Việt Nam
MỚI NHẤT ĐỘC QUYỀN MULTIMEDIA CHUYÊN ĐỀ
01/03/2026 - 21:40 (GMT+7)

Giữ nghề truyền thống, phụ nữ vùng cao mở lối làm du lịch

Nguyễn Thu
Giữ nghề truyền thống, phụ nữ vùng cao mở lối làm du lịch

Chị Lý Sao Mai, trưởng nhóm sản xuất giấy dó xóm Sưng đang thực hiện quy trình làm giấy dó

Buổi sáng ở xóm Sưng, xã Cao Sơn (Phú Thọ), sương còn vắt ngang sườn núi Biều, tiếng chày giã dó đã vang lên đều đặn. Trong những nếp nhà trệt lợp mái cọ, phụ nữ Dao Tiền bắt đầu ngày mới bằng công việc quen thuộc, người nhóm bếp, người bóc vỏ dó, người chuẩn bị thùng seo giấy.

Ởđây, nghề làm giấy dó từng đứng trước nguy cơ mai một, giờ đang hồi sinh mạnh mẽ, không chỉ như một di sản văn hóa mà còn trở thành sinh kế và gắn với du lịch cộng đồng. Giữa đại ngàn, những người phụ nữ xóm Sưng đang lặng lẽ làm công việc rất ý nghĩa đó là giữ nghề truyền thống của cha ông và "mở lối" cho tương lai.

Hành trình hồi sinh nghề giấy dó

Ẩn mình giữa những cánh rừng hùng vĩ, xóm Sưng thuộc xã Cao Sơn như tách biệt hoàn toàn khỏi sự ồn ào, khói bụi phố thị, nơi đây khí hậu mát mẻ quanh năm. Từ một làng thuần nông, xóm Sưng đã và đang chuyển mình mạnh mẽ khi những người phụ nữ nơi đây biết kết hợp nghề truyền thống của cha ông để phát triển du lịch. Xóm nghèo ngày nào đang chuyển mình mạnh mẽ khi những giá trị văn hóa Dao Tiền được bảo tồn nguyên vẹn và cuộc sống của gần 100 hộ dân nơi đây ngày càng khấm khá.

Chị Lý Sao Mai (SN 1986), người Dao Tiền, tổ trưởng tổ làm giấy dó xóm Sưng, cho biết: Người dân ở đây ngoài làm nương rẫy còn có nghề làm giấy truyền thống nhưng có giai đoạn nghề này gần như biến mất. "Thế hệ ông bà tôi ai cũng biết làm giấy. Đến đời bố mẹ thì nghề thưa dần, rồi mất hẳn. Tuy vậy, khi giấy dó không còn được làm, cây dó vẫn được trồng nhưng chỉ để bán vỏ thô. Vỏ dó được bóc, bán đi Bắc Ninh hoặc một số địa phương khác, thu nhập thấp và bấp bênh. "Mình bán đi phần tinh túy nhất, còn giá trị văn hóa thì mất", chị Mai nói.

Cây dó là loại cây thân không lớn, vỏ dày, nhiều xơ sợi dài và dai. Từ hàng trăm năm trước, đồng bào Dao Tiền đã chọn dó để làm giấy bởi độ bền vượt trội so với tre hay nứa. Nếu không khai thác đúng thời điểm, cây dó sau 10-15 năm sẽ tự chết, gây lãng phí tài nguyên. Nỗi tiếc nuối ấy thôi thúc chị Mai đứng ra khôi phục nghề. Năm 2022, chị thành lập tổ làm giấy dó với 11 thành viên, phần lớn là phụ nữ trong xóm. "Ban đầu ai cũng bỡ ngỡ. Có mẻ hỏng phải đổ đi, có lúc tưởng không làm nổi", chị nhớ lại. Hơn một năm vừa làm vừa học, đến cuối năm 2023, giấy dó xóm Sưng mới đạt độ ổn định khi màu trắng ngà tự nhiên, dai, bền, không hóa chất. Từ đó, những đơn hàng đầu tiên bắt đầu đến. Làm giấy dó là chuỗi công đoạn thủ công đòi hỏi kiên nhẫn. Vỏ dó sau khi bóc lớp vỏ đen sẽ được luộc kỹ trong nhiều giờ để sợi mềm. Nếu dùng nồi củi, phải mất 16-17 tiếng; nồi điện cũng cần 8- 10 tiếng. Sau đó là công đoạn giã và khuấy sao cho sợi không bị đứt mà vẫn giữ độ dai.

Công đoạn seo giấy là "linh hồn" của nghề. Người thợ phải cảm nhận bằng tay và mắt để tờ giấy mỏng đều, không rách. Giấy được phơi hoàn toàn tự nhiên, cho ra thành phẩm mộc mạc, bền chắc - thứ chất liệu được họa sĩ, nghệ nhân thủ công và khách du lịch ưa chuộng.

Hiện tổ giấy dó xóm Sưng có 11 thành viên, trong đó 10 là nữ. Doanh thu mỗi tháng khoảng 40-50 triệu đồng. Giá bán lẻ từ 25.000-30.000 đồng/tờ, tùy kích thước. Thu nhập chưa cao nhưng ổn định hơn nhiều so với trước. "Nghề này giúp phụ nữ không phải đi làm thuê xa, vừa có việc, vừa giữ được văn hóa", chị Mai nói. Quan trọng hơn, nghề giấy dó tạo đầu ra ổn định cho cây dó bản địa, giúp bà con yên tâm trồng và bảo vệ rừng.

Được mẹ hướng dẫn, cháu Lý Bảo Trân (học sinh lớp 9) đã thành thạo các công đoạn làm giấy dó

Được mẹ hướng dẫn, cháu Lý Bảo Trân (học sinh lớp 9) đã thành thạo các công đoạn làm giấy dó

Tín hiệu đáng mừng là trong xưởng giấy của chị Sao Mai, không hiếm những đôi bàn tay nhỏ bé cũng tham gia tích cực vào từng công đoạn làm giấy dó. Lý Bảo Trân, học sinh lớp 9, tranh thủ thời gian không phải đến trường để làm giấy. "Ban đầu khó nhưng quen rồi thấy vui. Cháu thích vì đây là nghề của người Dao mình", Bảo Trân chia sẻ. Việc Bảo Trân và nhiều em nhỏ ở xóm Sưng sớm tiếp xúc với nghề truyền thống cho thấy giấy dó của người Dao Tiền nơi đây không chỉ được phục hồi, mà đang được trao truyền. 

Nghề truyền thống trở thành sản phẩm du lịch

Không chỉ làm giấy để bán, nghề giấy dó còn trở thành sản phẩm trải nghiệm trong mô hình du lịch cộng đồng của xóm Sưng. Du khách đến đây được trực tiếp tham gia các công đoạn từ bóc vỏ dó, seo giấy, vẽ hoa văn trên giấy. Nhiều người mua giấy dó như một kỷ niệm mang về.

Xóm Sưng nằm dưới chân núi Biều, khí hậu mát mẻ và đó là điều kiện lý tưởng để nơi đây phát triển du lịch. Từ năm 2017, người dân bắt đầu làm du lịch cộng đồng, dựa trên chính những giá trị văn hóa Dao Tiền còn được bảo tồn gần như nguyên vẹn. Chị Bàn Thị Hải, thành viên ban điều phối du lịch cộng đồng xóm Sưng, cho biết: "Khách nước ngoài rất thích đến trải nghiệm tại xóm Sưng bởi vì ở trên này vẫn giữ được văn hóa cũng như truyền thống của người Dao nguyên vẹn. Đó là những nét đặc trưng, đặc thù mà không phải nơi nào cũng có".

Du khách đến xóm Sưng được ở nhà trệt lợp mái cọ truyền thống, cùng người dân dệt thổ cẩm, vẽ sáp ong, nhuộm chàm, làm giấy dó, tắm lá thuốc, đi nương, bắt cá suối. Ẩm thực cũng mang đậm hương vị núi rừng với rau đồ, gà đồi, cá suối, xôi nếp nương, rượu cần, rượu hoẵng. Những trải nghiệm đời thường ấy lại chính là sức hút của du lịch xóm Sưng.

Giữ nghề truyền thống, phụ nữ vùng cao mở lối làm du lịch- Ảnh 2.

Du khách trải nghiệm tại tổ thổ cẩm xóm Sưng

Tháng 9/2022, xóm Sưng thành lập ban điều phối du lịch cộng đồng với sự hỗ trợ của tổ chức AOP. Ban gồm 7 người, chia thành nhóm triển khai (những người trẻ) và nhóm cố vấn (các già làng, người am hiểu văn hóa). Hiện xóm có 3 hộ làm homestay và 4 hộ cung cấp phòng riêng cho khách. Du lịch mang lại thêm thu nhập, nhưng theo chị Hải, vẫn chưa trở thành nguồn sinh kế chính. "Du lịch mới mang tính thời vụ, hỗ trợ là chính", chị Hải nói.

Khó khăn lớn nhất là hạ tầng giao thông. Con đường vào xóm hẹp, nhiều đoạn xuống cấp. "Khách rất thích nhưng ngại đường xấu", chị Hải chia sẻ. Ngoài ra, kỹ năng ngoại ngữ, quản lý, quảng bá của người dân còn hạn chế. Nhiều người phải dùng Google dịch để giao tiếp với khách. Dù vậy, du lịch đã tạo ra những thay đổi tích cực khi người dân ý thức hơn trong giữ gìn môi trường, bảo vệ rừng, khôi phục nghề truyền thống. Văn hóa không còn chỉ để giữ, mà trở thành nguồn lực phát triển.

Theo chị Hải, để du lịch cộng đồng xóm Sưng phát triển mạnh mẽ và bền vững hơn nữa, việc đầu tư nâng cấp hạ tầng giao thông là yếu tố then chốt. Một con đường rộng rãi, an toàn sẽ thu hút nhiều du khách hơn và tạo điều kiện thuận lợi cho việc vận chuyển, giao thương. Bên cạnh đó, cần có những chính sách, chương trình đào tạo chuyên sâu hơn, giúp người dân nâng cao kỹ năng quản lý, tiếp thị, và đa dạng hóa sản phẩm du lịch. Chuyển đổi từ "làm thời vụ" sang một ngành kinh tế chính, tạo ra nguồn thu nhập ổn định cho bà con, là mục tiêu cần được hướng tới.

"Xuất thân là những nông dân rồi chuyển sang làm du lịch, tiếng Anh là hạn chế rất lớn, bản thân tôi cũng vậy. Ngoài ra, nhiều kỹ năng về quản lý, điều phối tôi và các hộ dân tự mày mò tìm hiểu do đó không thể tránh được những thiếu sót", chị Hải chia sẻ.

Giữ nhà, giữ nghề, giữ bản sắc

Theo ông Lý Văn Nghĩa, Trưởng xóm Sưng, tên xóm bắt nguồn từ cây Sâng - loài cây bản địa từng mọc nhiều ở đây. Trải qua nhiều thế hệ, gần 400 nhân khẩu người Dao Tiền vẫn giữ được kiến trúc nhà trệt lợp mái cọ, các lễ nghi, điệu múa, chữ Nôm Dao và nghề thủ công truyền thống.

Đặc biệt, lớp học chữ Nôm Dao được duy trì vào ngày mùng 1 và 15 Âm lịch hằng tháng, không chỉ để truyền dạy cho thế hệ trẻ mà còn trở thành hoạt động trải nghiệm cho du khách. Từ giấy dó, thổ cẩm, sáp ong đến homestay và tour trải nghiệm, xóm Sưng đang đi con đường phát triển chậm nhưng bền là lấy văn hóa làm gốc, lấy phụ nữ làm trung tâm, lấy cộng đồng làm chủ thể.

Dưới chân núi Biều, những người phụ nữ Dao Tiền vẫn kiên nhẫn seo từng tờ giấy dó. Mỗi tờ giấy không chỉ là sản phẩm thủ công, mà là một phần ký ức được giữ lại, một sinh kế đang nảy mầm và một lối đi mới để người dân vùng cao sống được bằng chính bản sắc của mình.

Ý kiến của bạn
Bình luận
Xem thêm bình luận