Hợp nhất 4 Chương trình mục tiêu quốc gia: Làm rõ mục tiêu, nguồn lực và cơ chế thực hiện
Ảnh minh họa
Bộ Tài chính cho biết đã tiếp thu, giải trình nhiều ý kiến của đại biểu Quốc hội, qua đó làm rõ tính chất pháp lý, mục tiêu, nguồn lực, nguyên tắc phân bổ, cơ chế quản lý và tổ chức thực hiện việc hợp nhất 4 Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026-2035.
Hợp nhất nhưng không "cộng cơ học"
Bộ Tài chính vừa có Báo cáo số 679/BC-BTC tiếp thu, giải trình ý kiến của các đại biểu Quốc hội đối với hồ sơ dự thảo Nghị quyết về Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026-2035.
Một trong những vấn đề được đại biểu Quốc hội quan tâm là sự cần thiết của việc hợp nhất 4 Chương trình mục tiêu quốc gia (CTMTQG), cũng như tính chất pháp lý của việc tích hợp các chương trình.
Bộ Tài chính cho biết đã rà soát hồ sơ, trong đó xác định việc đề xuất ban hành một Nghị quyết mới nhằm phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình, thay thế các Nghị quyết của Quốc hội về 4 chương trình hiện hành.
Theo Bộ Tài chính, việc hợp nhất được thực hiện trên cơ sở tích hợp các mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung của 4 chương trình nhưng không phải là sự cộng gộp cơ học. Dự thảo Nghị quyết vẫn quy định các mục tiêu, nhiệm vụ và đối tượng của từng lĩnh vực, đồng thời xác định mục tiêu chung và các mục tiêu cụ thể đến năm 2030, 2035.
Tên gọi chương trình cũng được tiếp thu, chỉnh lý theo hướng bao quát các lĩnh vực được tích hợp, trong đó có phát triển văn hóa, xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; đồng thời gắn với các mục tiêu về giáo dục, đào tạo, chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển.

Trước ý kiến đề nghị đánh giá rõ hơn tác động của việc hợp nhất, Bộ Tài chính cho biết đã bổ sung nội dung đánh giá tại các phụ lục của hồ sơ. Trong đó, báo cáo cũng chỉ ra những rủi ro cần lưu ý, như khả năng một số nhóm đối tượng có thể nhận mức hỗ trợ thấp hơn nếu nguồn lực bị dàn trải.
Bộ Tài chính nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm nguồn lực cho các nhóm đối tượng và địa bàn ưu tiên, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
808.558 tỷ đồng cho giai đoạn 2026-2030
Theo dự kiến, tổng nguồn lực thực hiện Chương trình giai đoạn 2026-2030 là 808.558 tỷ đồng.
Trong đó, ngân sách trung ương 345.000 tỷ đồng, gồm 244.200 tỷ đồng vốn đầu tư công và 100.800 tỷ đồng vốn sự nghiệp; ngân sách địa phương 395.392 tỷ đồng; ngân sách nhà nước cấp thực hiện tín dụng chính sách 23.000 tỷ đồng; nguồn huy động hợp pháp khác 24.737 tỷ đồng.
Bộ Tài chính cho biết việc bố trí nguồn lực phải bảo đảm thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ đã xác định, đồng thời không làm giảm nguồn lực dành cho các lĩnh vực, nhóm đối tượng và địa bàn ưu tiên.

Dự thảo cũng quy định nguyên tắc tập trung nguồn lực cho các mục tiêu, nhiệm vụ trọng tâm, tránh phân bổ dàn trải; ưu tiên các địa bàn khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Đối với ngân sách địa phương, Bộ Tài chính tiếp thu theo hướng địa phương chủ động bố trí ngân sách để thực hiện chương trình. Ngân sách trung ương sẽ hỗ trợ có mục tiêu đối với những địa phương chưa tự cân đối được ngân sách, trên cơ sở tiêu chí, định mức và mức hỗ trợ phù hợp.
Đáng chú ý, khoản 23.000 tỷ đồng vốn ngân sách nhà nước thực hiện tín dụng chính sách cũng được làm rõ. Theo Bộ Tài chính, nguồn vốn này nhằm bảo đảm nguồn lực cho các chính sách tín dụng được cấp có thẩm quyền quyết định, tạo điều kiện để Ngân hàng Chính sách xã hội thực hiện các chương trình tín dụng dành cho các nhóm đối tượng thụ hưởng.
Địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm
Về cơ chế quản lý, Bộ Tài chính tiếp thu ý kiến đại biểu theo hướng Chính phủ thống nhất điều hành chương trình, đồng thời phân định rõ trách nhiệm giữa trung ương và địa phương. Theo dự thảo, Chính phủ quyết định khung chỉ tiêu, mục tiêu, nguồn lực và cơ chế quản lý; Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo, tổ chức thực hiện, kiểm tra, đánh giá. Các bộ, cơ quan trung ương thực hiện nhiệm vụ theo lĩnh vực được phân công. Ở địa phương, HĐND cấp tỉnh quyết định các nội dung thuộc thẩm quyền; UBND cấp tỉnh tổ chức thực hiện và chịu trách nhiệm về kết quả chương trình trên địa bàn.
Bộ Tài chính cũng tiếp thu nguyên tắc "địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm", đồng thời yêu cầu việc phân cấp phải phù hợp với thẩm quyền và quy định pháp luật. Cùng với phân định trách nhiệm, dự thảo cũng làm rõ cách lồng ghép nguồn lực, xử lý các nhiệm vụ chuyển tiếp và đánh giá kết quả thực hiện.
Đối với lồng ghép nguồn lực, Bộ Tài chính làm rõ đây không phải là việc gộp chung tất cả các nguồn vốn. Dự thảo yêu cầu xác định rõ nguồn vốn, cơ cấu nguồn vốn và nhiệm vụ chi nhằm tránh chồng chéo, tạo thuận lợi cho quản lý, kiểm tra, kiểm toán, đồng thời không làm phát sinh rủi ro pháp lý hay thêm gánh nặng cho địa phương.
Một vấn đề khác được quan tâm là xử lý các nhiệm vụ, dự án và nguồn vốn chuyển tiếp. Theo phương án được tiếp thu, những nhiệm vụ, dự án, hợp đồng, tài sản và nguồn vốn đã được cấp có thẩm quyền quyết định trong giai đoạn 2026-2030 sẽ tiếp tục được thực hiện, thanh toán, quyết toán theo cơ chế hiện hành cho đến khi hoàn thành. Phần vốn kéo dài và kế hoạch năm 2027 tiếp tục được thực hiện theo cơ chế chuyển tiếp của chương trình mới.
Bộ Tài chính cũng cho biết đã rà soát hơn 70 văn bản hướng dẫn thực hiện 4 chương trình theo hướng thống nhất quy trình, thủ tục, đẩy mạnh phân cấp cho địa phương và hạn chế chồng chéo. Việc rà soát được thực hiện đồng thời với xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan trong hướng dẫn, tổ chức thực hiện, kiểm tra và giám sát.
Đặc biệt, việc đánh giá chương trình được định hướng theo kết quả cụ thể, thay vì chỉ tập trung vào giải ngân hay mức độ hoàn thành nhiệm vụ. Dự thảo quy định đánh giá dựa trên các chỉ tiêu, mục tiêu của chương trình; thực hiện báo cáo định kỳ và đánh giá sự hài lòng của người dân đối với việc triển khai.
Đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, Bộ Tài chính tiếp tục rà soát để bảo đảm mức độ ưu tiên cao, tập trung nguồn lực cho các địa bàn khó khăn, đặc biệt khó khăn và những nơi còn thiếu hụt về hạ tầng, sinh kế và các dịch vụ xã hội cơ bản.
Trên cơ sở tiếp thu, giải trình ý kiến đại biểu Quốc hội, dự thảo Nghị quyết được chỉnh lý gồm 6 điều, quy định về mục tiêu, phạm vi, thời gian, nguồn lực; nguyên tắc thực hiện và xử lý chuyển tiếp; trách nhiệm của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, địa phương và cơ chế giám sát. Nghị quyết mới sẽ thay thế 4 Nghị quyết của Quốc hội về các chương trình mục tiêu quốc gia trong giai đoạn trước, tạo khuôn khổ chung để triển khai chương trình giai đoạn 2026-2035.