Khai hội Đền Bà Đế - Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia
Đền Bà Đế
Ngày 11/4 chính thức diễn ra lễ hội Đền Bà Đế. Đây là một trong những lễ hội truyền thống lớn nhất tại Hải Phòng. Được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, lễ hội không chỉ là dịp tỏ lòng thành kính với thần linh phù hộ biển cả mà còn thể hiện đậm nét tín ngưỡng và văn hóa bản địa của cộng đồng ngư dân.
Lễ hội Đền Bà Đế diễn ra hàng năm vào 24 và 25 tháng 2 âm lịch - thời điểm linh thiêng được người dân lưu giữ qua nhiều thế hệ… Lễ hội gắn liền với Nữ thần Đế - Thủy Thần linh thiêng, cứu giúp dân lành và phù trợ ngư dân ra khơi.
Lễ hội xuất phát từ tín ngưỡng thờ Mẫu và Thần Biển, phản ánh lòng kính trọng và tưởng nhớ công ơn của Bà, trở thành nơi cầu khấn linh thiêng cho cộng đồng ven biển. Người dân đến đền thành tâm cầu Bà che chở, ước mong cuộc sống ấm no, mùa màng bội thu và biển lặng sóng yên cho ngư dân.

Đền Bà Đế nằm dưới chân núi Độc, Đồ Sơn, Hải Phòng. Ảnh: Vĩnh Quân
Đền Bà Đế nằm tại chân núi Độc, phường Đồ Sơn, TP Hải Phòng, là điểm du lịch tâm linh nổi tiếng thờ người vợ của Chúa Trịnh. Nơi đây có cảnh quan đẹp tựa lưng vào núi, hướng ra biển.
Từ xa xưa, Lễ hội Đền Bà Đế mang trong mình những giá trị tâm linh và xã hội sâu sắc: Đây là dịp để nhân dân thực hiện nghi thức tế thần linh. Người dân bày tỏ lòng biết ơn và tôn kính đối với Bà Đế. Họ cầu xin Bà ban phát phúc lành, mùa màng bội thu (đánh bắt hải sản). Đặc biệt là cầu mong sự bình an cho những người làm nghề biển. Lễ hội là cầu nối đoàn kết cộng đồng. Đây là nơi để người dân địa phương gặp gỡ, giao lưu. Đồng thời, nó còn là một hoạt động thiết thực nhằm bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc. Lễ hội thể hiện truyền thống "Uống nước nhớ nguồn" của người Việt.

Quang cảnh Đền Bà Đế. Ảnh: TT
Lễ hội diễn ra với 2 phần chính: phần Lễ tập trung vào các nghi thức tâm linh linh thiêng. Phần Hội bao gồm các hoạt động văn hóa đa dạng. Nghi thức Khai hội và Rước kiệu diễn ra ngày 24 tháng 2 Âm lịch. Tiêu điểm chính là Lễ Rước kiệu Bà Đế từ Đền xuống biển. Sau đó, kiệu được rước trở lại Đền một cách trang nghiêm. Cuối cùng, nghi thức thể hiện ý nghĩa Bà ban phước cho ngư dân.
Nghi thức Tế Lễ chính diễn ra sáng 25 tháng 2 Âm lịch, là phần linh thiêng nhất của lễ hội, với các bô lão và đại diện làng xã dâng hương, đọc văn tế cầu an và tỏ lòng biết ơn Bà. Phần Hội diễn ra sôi nổi trong 2 ngày với hát chèo, hát văn, múa lân, múa rồng và các trò chơi dân gian, mang không khí rộn ràng cho mọi lứa tuổi. Nghi thức Rước kiệu là điểm nhấn đặc sắc, kiệu trang trí lộng lẫy được thanh niên khiêng qua các tuyến đường, đi kèm đoàn múa lân, rồng và cờ lọng, tạo vẻ trang nghiêm. Lễ hội kết hợp hài hòa giữa nghi lễ tâm linh và văn hóa truyền thống, để lại ấn tượng sâu sắc và gắn kết cộng đồng.

Chuông thờ tại Đền Bà Đế. Ảnh: Vĩnh Quân
Nghi thức Cúng tế được thực hiện với sự cẩn trọng và trang trọng. Nghi thức này tuân thủ chặt chẽ theo các lệ tục cổ truyền lâu đời. Đồng thời, thể hiện sự thành kính tối cao với Thần Biển. Đồ tế lễ thường là các sản vật địa phương tươi ngon nhất. Bên cạnh đó, các loại bánh truyền thống cũng được chuẩn bị công phu. Điều này thể hiện lòng tôn kính sâu sắc của người dân.

Tượng thờ Bà Đế. Ảnh: Vĩnh Quân
Đền Bà Đế không chỉ sở hữu cảnh quan sơn thủy hữu tình mà còn là câu chuyện về cuộc đời bi thương của người con gái hồng nhan bạc phận được tưởng thờ tại đây, đó là bà Đào Thị Hương (tức Bà Đế) - vợ chúa Trịnh Giang, đền Bà từng được vua Tự Đức về thăm và ban sắc phong "Đông Nhạc Đế Bà - Trịnh chúa phu nhân". Tương truyền, vào năm 1718 ở phía đông nam vùng Ngọc Ðồ Sơn có đôi vợ chồng họ Ðào sinh ra một người con gái đặt tên là Ðào Thị Hương. Nhưng kỳ lạ thay, từ lúc sinh ra cho đến khi lớn lên, người con gái ấy luôn tỏa ra mùi hương thơm ngát, người phát ánh hào quang, đi đến đâu cũng có làn mây che đến đó. Có một ngày Chúa Trịnh Giang đi kinh lý Ðồ Sơn, khi dạo thắng cảnh đã xúc động trước tiếng hát truyền cảm cùng với vẻ đẹp nghiêng nước nghiêng thành của Bà, Chúa yêu mến và quyến luyến không rời.
Một thời gian sau, Bà mang thai, Hàng Tổng biết chuyện và bắt bố mẹ Bà phải nộp phạt. Nhưng vì nhà nghèo không có tiền nộp phạt, Hàng Tổng đem Bà dìm xuống biển. Trước khi chết, Bà khóc lóc, xót thương cha mẹ cũng như số phận của bản thân. Bà ngửa mặt lên trời khóc than rằng: "Phận gái thân cô, gặp Chúa yêu thương tôi đâu dám chống, nhìn mẹ cha, hàng xóm tôi đâu dám quên. Xin trời phật chứng giám cho lòng con. Khi con bị dìm xuống nước, nếu có oan ức, trời phật cho con nổi lên 3 lần". Quả nhiên bà nổi lên 3 lần, mọi người ai nấy đều kinh sợ.
Về sau, người dân trong vùng vẫn nghe tiếng bà than khóc trong gió biển: "Khi nào dây mục, cối tan thì mối hận thù này mới được gỡ bỏ". Sau một tháng, thuyền hoa của Chúa tới rước bà về kinh. Biết chuyện, Chúa Trịnh vô cùng đau khổ và thương tiếc cho Bà. Chúa Trịnh Giang đã cho xây đền, lập đàn giải oan cho Bà. Sự tôn nghiêm của ngôi đền bảo vệ ngôi làng khỏi những tên cướp biển và kẻ xấu.

Đền Bà Đế có cấu trúc đơn giản. Ảnh: Vĩnh Quân
Đền Bà Đế có cấu trúc đơn giản nhưng trang nhã, được xây dựng tựa vào chân núi Độc, hướng ra biển bao la tạo nên một công trình độc đáo. Chính điện của Đền là nơi thờ Bà Đế và cha mẹ bà. Bên trái chính điện là bệ thờ Vua Biển. Cạnh đó là nơi thờ Vua Đất, Vua Núi và chúng sinh. Bên phải gian chính là bàn thờ Tam Tòa Thánh Mẫu - 3 vị nữ thần cai quản đất trời sông núi. Đối diện với bàn thờ Tam Tòa Thánh Mẫu là bàn thờ Phật và Đức Đại Vương (Trần Quốc Tuấn) - danh tướng thời Trần. Ngay trước sân Đền là hình ảnh một chiếc thuyền, trên đó có tượng Bồ Tát, xung quanh là hình rồng càng làm tăng thêm vẻ tôn nghiêm nơi đây.

Bãi đá tự nhiên vô cùng đẹp trước Đền Bà Đế. Ảnh: Vĩnh Quân
Mỗi buổi chiều, khi mặt trời đã khuất sau rặng núi Độc, du khách có thể đứng dưới gác chuông của Đền để ngắm nhìn cảnh biển, chiêm ngưỡng khoảnh khắc hoàng hôn buông xuống sẽ thấy bình yên đến lạ. Từ sân Đền rẽ về bên phải, du khách đến với một bãi đá đẹp và dài, bên phải con đường đi ra bãi đá là vách núi với hàng cây xanh mướt. Du khách hãy đến và nghe biển hát chiều nay như nhắc nhớ đến một câu chuyện đầy oan khuất về "Đông nhạc Đế bà"…