Khoảng trống bản quyền số và “quyền lực” của các mạng đa kênh tại Việt Nam
Nhạc sĩ của năm Nguyễn Văn Chung tự sản xuất nhạc vẫn nhiều lần bị khiếu nại bản quyền
Liên quan đến vụ việc nhiều doanh nghiệp bị cơ quan chức năng khởi tố với cáo buộc xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan gần đây đã bộc lộ một số bất cập trong hệ sinh thái bản quyền số tại Việt Nam, đặc biệt là sự mất cân bằng quyền lực giữa các mạng đa kênh (MCN). Trao đổi với Báo Phụ nữ Việt Nam, Phó Giáo sư Nguyễn Văn Thăng Long - Phó chủ nhiệm bộ môn Truyền thông chuyên nghiệp, Đại học RMIT Việt Nam đã có những phân tích về vấn đề này.
Ngày 16/5, các chủ doanh nghiệp bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an khởi tố với cáo buộc xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan gồm: BH Media, Lululola, 1900 Group, Mây Sài Gòn, Giọng ca để đời.
Theo tài liệu điều tra, BH Media, ca sĩ Quang Lập, Mây Sài Gòn, 1900 Group đã ký hợp đồng với nhiều đơn vị tổ chức các đêm nhạc. Sau đó, ghi âm, ghi hình các tác phẩm âm nhạc để chỉnh sửa, sao chép và đăng tải trên các kênh YouTube mà không được phép của tác giả, chủ sở hữu.
Hành vi của các cá nhân, đơn vị trên đã bị Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu (C03, Bộ Công an) khởi tố về tội Xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan theo điều 225 Bộ luật Hình sự.
Từ vụ việc trên, Phó Giáo sư Nguyễn Văn Thăng Long (Phó chủ nhiệm bộ môn Truyền thông chuyên nghiệp, Đại học RMIT Việt Nam) phân tích khoảng trống, những bất cập trong hệ sinh thái bản quyền số tại Việt Nam, đặc biệt là sự mất cân bằng quyền lực giữa các mạng đa kênh (MCN) và nghệ sĩ, nhà sáng tạo nội dung trong môi trường số.
Đồng thời đưa ra giải pháp tăng cường thực thi pháp luật, nâng cao hiểu biết bản quyền số cho nghệ sĩ để tránh bị xâm phạm quyền tác giả và quyền liên quan.
Quyền lực đen trong bản quyền số
PV: Từ các vụ việc khởi tố liên quan đến BH Media, Lululola, Mây Sài Gòn hay 1900 Group gần đây, theo ông, điều đáng lo ngại nhất trong hệ sinh thái bản quyền số tại Việt Nam hiện nay là gì?
PGS. Nguyễn Văn Thăng Long: Trong bối cảnh tranh chấp bản quyền trực tuyến ngày càng phức tạp, câu chuyện liên quan đến các đơn vị trên tiếp tục làm dấy lên nhiều tranh luận về vai trò, quyền lực và trách nhiệm của các MCN (Multi-Channel Network - mạng lưới quản lý đa kênh) trên các nền tảng như YouTube và TikTok.
Những đơn vị này có thể tạo “dấu vân tay số” cho nội dung, gửi yêu cầu nhận diện bản quyền (claim), chặn hoặc thu doanh thu từ hàng trăm, hàng ngàn video chỉ bằng vài thao tác kỹ thuật. Trong khi đó, đa số nghệ sĩ, nhạc sĩ và nhà sáng tạo nội dung lại không có công cụ tương tự, thậm chí chưa thực sự hiểu rõ các khái niệm như dữ liệu nhận diện nội dung (metadata), giấy phép đồng bộ nội dung với hình ảnh (sync license) hay “dấu vân tay số” của tác phẩm.
Điều đáng lo ngại không nằm ở sự tồn tại của MCN, mà ở việc quyền lực đang nghiêng quá mạnh về phía những đơn vị nắm công nghệ. Tôi cho rằng gọi đó là “quyền lực đen” không phải vì bản chất MCN là xấu, mà vì ở Việt Nam quyền lực đang nghiêng hẳn về phía một số doanh nghiệp nắm công cụ, còn nghệ sĩ, tác giả gần như tay không.

Phó giáo sư Nguyễn Văn Thăng Long, Phó chủ nhiệm bộ môn Truyền thông chuyên nghiệp, Đại học RMIT Việt Nam. Ảnh: RMIT
PV: Sự mất cân bằng quyền lực này dẫn đến những bất lợi thế nào với nghệ sĩ/nhà sáng tạo nội dung, thưa Phó Giáo sư?
PGS. Nguyễn Văn Thăng Long: Việt Nam chuyển dịch rất nhanh từ băng đĩa truyền thống sang YouTube, TikTok và phát trực tiếp (streaming). Các MCN lại là nhóm hiểu nền tảng rõ nhất, biết cách vận hành hệ thống nhận diện bản quyền Content ID, tối ưu việc gửi yêu cầu nhận diện nội dung và tận dụng những khoảng trống trong quy trình kiểm chứng. Điều này diễn ra trong bối cảnh nhiều nghệ sĩ còn thiếu kiến thức về bản quyền số, còn cơ quan quản lý chưa kịp xây dựng các hướng dẫn cụ thể cho môi trường trực tuyến.
Khoảng trống hiểu biết này khiến nhiều nghệ sĩ ký hợp đồng quản lý kênh hoặc ủy quyền digital mà không hiểu rõ phạm vi, thời hạn hay cách chia doanh thu. Khi chưa coi dữ liệu và "dấu vân tay số” là tài sản, họ vô tình trao toàn bộ “chìa khóa” cho bên nắm công nghệ và chỉ nhận ra bất lợi sau nhiều năm.
Các nền tảng MXH cần chia sẻ trách nhiệm nhiều hơn
PV: Vì sao ở nhiều quốc gia phát triển, MCN vẫn hoạt động mạnh nhưng ít xảy ra tình trạng tranh chấp kéo dài hoặc "nhận vơ" bản quyền như tại Việt Nam?
PGS. Nguyễn Văn Thăng Long: Ở các quốc gia phát triển, MCN vẫn hoạt động phổ biến nhưng được “neo lại” bởi một hệ sinh thái bản quyền chặt chẽ hơn nhiều.
Các MCN muốn khai thác kho nội dung âm nhạc phải ký các hợp đồng cấp phép rõ ràng với đơn vị phát hành âm nhạc, hãng thu âm hoặc các tổ chức quản lý tập thể quyền tác giả như ASCAP, BMI, PRS hay JASRAC. Những hợp đồng này quy định cụ thể về quyền sử dụng bản ghi, quyền sử dụng nhạc đi kèm hình ảnh, phạm vi lãnh thổ, thời hạn khai thác cũng như cơ chế phân chia doanh thu.

Theo PGS. Nguyễn Văn Thăng Long, các nền tảng như YouTube, Tiktok cần chia sẻ trách nhiệm nhiều hơn trong vấn đề bảo vệ bản quyền số tại thị trường Việt Nam
Ngoài ra, nghệ sĩ tại nhiều quốc gia còn được hỗ trợ bởi các hiệp hội nghề nghiệp mạnh và đội ngũ luật sư sở hữu trí tuệ chuyên sâu. Nếu MCN lạm dụng Content ID hoặc “nhận vơ” bản quyền, họ có thể đối mặt với các vụ kiện dân sự hoặc hình sự với mức bồi thường rất lớn.
Một yếu tố khác biệt quan trọng là giáo dục bản quyền số được xem như một phần của hạ tầng công nghiệp sáng tạo. Nghệ sĩ, nhà sản xuất và quản lý thường xuyên được đào tạo về quyền tác giả, quyền liên quan, giấy phép số và các rủi ro pháp lý trong môi trường trực tuyến.
PV: Ông đánh giá thế nào về trách nhiệm của các nền tảng như YouTube, TikTok trong các tranh chấp bản quyền tại Việt Nam?
PGS. Nguyễn Văn Thăng Long: Các nền tảng như YouTube, Tiktok cần chia sẻ trách nhiệm nhiều hơn tại thị trường Việt Nam. Ở nhiều thị trường lớn, YouTube chịu áp lực rất lớn từ luật pháp và cộng đồng sáng tạo nên phải hoàn thiện quy trình kháng nghị, minh bạch hơn về các trường hợp nhận diện bản quyền sai và giám sát chặt các tài khoản lạm dụng công cụ bản quyền.
Trong khi đó, tại Việt Nam, dù thu được doanh thu đáng kể, nền tảng vẫn chưa thể hiện đầy đủ mức độ trách nhiệm tương tự. Việc một đơn vị như BH Media có thể đăng ký, khai thác và tranh chấp bản quyền trên quy mô lớn trong suốt một thời gian dài cho thấy nền tảng đã để khoảng trống quá lớn cho bên trung gian, thay vì chủ động thiết kế các “chốt chặn” và kênh đối thoại dành riêng cho nghệ sĩ, nhạc sĩ Việt Nam.

Các MCN nắm trong tay công cụ quản lý nội dung quy mô lớn, còn nghệ sĩ và nhà sáng tạo lại thiếu hiểu biết và nguồn lực để tự bảo vệ mình. Ảnh: Magnific
Cần những vụ án điểm để tăng tính răn đe
PV: Vậy hiện nay, theo Phó Giáo sư, mức chế tài ở Việt Nam như thế nào? Đã đủ mạnh hay đủ răn đe chưa?
PGS. Nguyễn Văn Thăng Long: Hiện nay, pháp luật Việt Nam về sở hữu trí tuệ theo Nghị định 341/2025/NĐ-CP với những khung hình phạt khá rõ ràng, bao gồm cả dân sự, hành chính và hình sự với mức phạt tối đa cho cá nhân là 250 triệu, và tổ chức là 500 triệu.
Mức chế tài dân sự cũng chưa phải là cao so với các quốc gia như Mỹ, Hàn Quốc hay EU, các MCN (Multi-Channel Network) lạm dụng Content ID hoặc nhận vơ bản quyền có thể đối mặt với các vụ kiện dân sự hoặc hình sự với mức bồi thường lên đến hàng triệu USD.
Hơn nữa, hệ thống pháp lý Việt Nam hiện chưa có quy định cụ thể về việc "cấm sóng" hoặc đình chỉ hoạt động lâu dài đối với các đơn vị vi phạm nghiêm trọng về bản quyền. Chỉ khi vi phạm ở mức độ nghiêm trọng (quy mô thương mại lớn, gây thiệt hại nghiêm trọng), hồ sơ mới được chuyển cho cơ quan điều tra để truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 225 Bộ luật Hình sự. Với các tội danh như chiếm đoạt tài sản, sử dụng trái phép tài sản với mức phạt tù lên đến 20 năm và phạt tiền đến 100 triệu đồng.
Để tăng tính răn đe, chúng ta cần những vụ kiện hay vụ án điểm đi đến cùng để xác lập tiền lệ về mức bồi thường thiệt hại tinh thần và lợi nhuận bất hợp pháp mà MCN phải hoàn trả. Hệ thống pháp lý cho việc thông báo và xử lý sai phạm bản quyền cũng nên được đơn giản hóa nhằm đảm bảo mọi nghệ sĩ hay các bên có liên quan đều có thể được xử lý các khiếu nại nhanh chóng. Khi đó thị trường mới có thể trở nên chuyên nghiệp và công bằng hơn.
Ngoài ra, để xác định trách nhiệm, các hiệp hội như: Trung tâm Bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam (VCPMC) cần công bố các hợp đồng tiêu chuẩn, xác định rõ phạm vi các quyền từ tác giả, biểu diễn, sản xuất, và đồng bộ Sync. Quan trọng nhất, chúng ta cần yêu cầu các nền tảng phải có cơ chế đối soát dữ liệu công khai với các cơ quan đại diện quyền tập thể như: VCPMC, thay vì tự do thiết lập báo cáo mà thiếu sự giám sát.
Bên cạnh việc chấn chỉnh môi trường bản quyền, xử lý vi phạm, nghệ sĩ cần được tập huấn, có hướng dẫn rõ ràng hơn để có thể bảo vệ quyền lợi của mình.
PGS. Nguyễn Văn Thăng Long chia sẻ về sự mất cân bằng quyền lực trong hệ sinh thái bản quyền số tại Việt Nam