Lãi vay giảm 1,5-2%, NIM ngân hàng chịu sức ép đến đâu?
Ảnh minh họa
Lãi suất cho vay giảm 1,5-2%/năm nhưng chỉ áp dụng trên một phần danh mục tín dụng, giúp hạn chế sức ép lên NIM (tỷ suất lợi nhuận ròng) ngân hàng. Trong khi đó, quy định mới về nghiệp vụ L/C có thể thu hẹp dư địa tăng trưởng tín dụng của một số nhà băng vào cuối năm.
Giảm lãi suất trên diện rộng nhưng không áp dụng cho toàn bộ dư nợ
Tính đến ngày 26/10/2026, nhiều ngân hàng đã công bố điều chỉnh giảm lãi suất huy động theo yêu cầu của Ngân hàng Nhà nước (NHNN). Mức giảm phổ biến khoảng 0,5 điểm phần trăm/năm, áp dụng với các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên. Ở chiều cho vay, các ngân hàng triển khai mức giảm 1,5-2 điểm phần trăm/năm, thậm chí có chương trình giảm tới 3 điểm phần trăm/năm đối với một số lĩnh vực và nhóm khách hàng.
Tuy nhiên, mức giảm được công bố không đồng nghĩa toàn bộ khách hàng đang vay vốn đều được hưởng mức lãi suất thấp hơn tương ứng. Trên thực tế, các ngân hàng chủ yếu triển khai thông qua những gói tín dụng có quy mô, thời hạn và đối tượng thụ hưởng cụ thể, tập trung vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và các ngành được Chính phủ khuyến khích.
Điều này tạo ra khoảng cách giữa mức giảm lãi suất được công bố và tác động thực tế đối với danh mục cho vay. Theo TCBS, nếu phần dư nợ được giảm lãi suất 1,5-2 điểm phần trăm/năm chỉ chiếm khoảng 3-5% tổng danh mục cho vay, tác động đến NIM toàn ngành sẽ tương đối hạn chế.

Giảm lãi suất trên diện rộng nhưng không áp dụng cho toàn bộ dư nợ. Ảnh minh họa
Một số gói tín dụng được các ngân hàng công bố cho thấy quy mô hỗ trợ có giới hạn. BIDV đưa ra gói tín dụng ưu đãi 100.000 tỷ đồng, tương đương khoảng 4% tổng dư nợ. Sacombank có gói tín dụng 40.000 tỷ đồng, tương đương khoảng 6% dư nợ; Vietbank công bố gói 3.000 tỷ đồng, tương đương khoảng 2,5% dư nợ.
Các tỷ lệ này phản ánh quy mô gói tín dụng so với tổng dư nợ, không đồng nghĩa toàn bộ số tiền đã được giải ngân hoặc đều được hưởng mức giảm lãi suất tối đa. Dư nợ thực tế chịu tác động còn phụ thuộc vào tiến độ giải ngân, điều kiện của từng chương trình và số khách hàng đáp ứng tiêu chí ưu đãi.
Theo ước tính của TCBS, với giả định dư nợ được giảm lãi suất 1,5–2 điểm phần trăm/năm chiếm 3–5% tổng danh mục cho vay, NIM toàn ngành có thể giảm khoảng 0,03–0,07 điểm phần trăm, trong khi lợi nhuận trước thuế có thể giảm khoảng 2–4%. Việc giảm tối thiểu 0,5 điểm phần trăm/năm lãi suất huy động niêm yết được kỳ vọng bù đắp một phần áp lực này.
Đây là ước tính theo các giả định của đơn vị phân tích, không phải mức suy giảm lợi nhuận đã được ghi nhận. Tác động thực tế còn phụ thuộc vào dư nợ thực sự được hưởng ưu đãi, thời gian áp dụng lãi suất mới, tốc độ điều chỉnh chi phí huy động và cơ cấu nguồn vốn của từng ngân hàng.
Ngân hàng quốc doanh chịu sức ép, nhà băng có chi phí vốn cao có lợi thế
Tác động của đợt giảm lãi suất không phân bổ đồng đều giữa các ngân hàng. Theo phân tích của Công ty Chứng khoán Rồng Việt (VDSC), những ngân hàng có tỷ trọng cho vay sản xuất, kinh doanh lớn có thể chịu áp lực đáng kể hơn khi triển khai chủ trương giảm lãi suất.
Số liệu được VDSC đề cập cho thấy tỷ trọng cho vay sản xuất, kinh doanh tại VietinBank đạt khoảng 66%, MB khoảng 57%, Vietcombank khoảng 56% và BIDV khoảng 51%. Đây là những ngân hàng có mức độ hiện diện đáng kể trong các lĩnh vực được ưu tiên hỗ trợ vốn.
Tuy nhiên, tỷ trọng cho vay sản xuất, kinh doanh cao không tự động đồng nghĩa NIM sẽ giảm mạnh nhất. Mức độ ảnh hưởng còn phụ thuộc vào phần dư nợ thực tế được giảm lãi suất, thời điểm điều chỉnh lãi vay, chi phí huy động vốn và khả năng bù đắp từ các nguồn thu khác.

Ngân hàng quốc doanh chịu sức ép. Ảnh minh họa
Nhóm ngân hàng quốc doanh có thể chịu sức ép lớn hơn khi vừa phải thực hiện vai trò dẫn dắt giảm lãi suất, vừa có mặt bằng lãi suất cho vay vốn tương đối cạnh tranh, khiến dư địa điều chỉnh thêm bị hạn chế. Nếu lãi suất đầu ra giảm nhanh hơn chi phí vốn, phần chênh lệch giữa thu nhập lãi và chi phí lãi sẽ bị thu hẹp.
Ở chiều ngược lại, những ngân hàng có chi phí huy động cao, phụ thuộc nhiều vào tiền gửi có kỳ hạn với mức lãi suất cao có thể hưởng lợi tương đối rõ hơn khi mặt bằng lãi suất huy động được điều chỉnh giảm. Nếu chi phí vốn giảm trong khi lãi suất cho vay bình quân giảm chậm hơn, áp lực lên NIM có thể được giảm nhẹ.
Dù vậy, mức giảm lãi suất huy động niêm yết không đồng nghĩa chi phí vốn thực tế của ngân hàng sẽ giảm tương ứng. TCBS cho rằng nhu cầu vay vốn cao có thể khiến lãi suất huy động thực tế khó giảm sâu, ngay cả khi mặt bằng lãi suất niêm yết đã hạ nhiệt. Các ngân hàng vẫn cần duy trì sức cạnh tranh trong huy động tiền gửi để đáp ứng nhu cầu giải ngân, đặc biệt vào giai đoạn cuối năm.
Do đó, mức giảm lãi suất huy động 0,5 điểm phần trăm/năm không thể được xem là khoản bù đắp tương ứng cho mức giảm lãi vay 1,5-2 điểm phần trăm/năm. Tác động thực tế còn phụ thuộc vào quy mô tiền gửi được điều chỉnh, thời điểm các khoản tiền gửi đáo hạn, cơ cấu kỳ hạn nguồn vốn và tốc độ tái định giá danh mục cho vay.
Kiểm soát nghiệp vụ L/C có thể thu hẹp dư địa tăng trưởng tín dụng cuối năm
Bên cạnh bài toán biên lãi, các ngân hàng còn phải tính toán dư địa tăng trưởng tín dụng sau yêu cầu quản lý chặt hơn đối với một số nghiệp vụ tài trợ thương mại.
Theo Công văn số 9608/NHNN-CSTT ngày 18/10/2026, NHNN yêu cầu các tổ chức tín dụng kiểm soát rủi ro đối với hoạt động mua hẳn miễn truy đòi bộ chứng từ theo thư tín dụng (L/C) do chính ngân hàng phát hành, tương tự các hoạt động cấp tín dụng khác.
Đáng chú ý, NHNN yêu cầu các tổ chức tín dụng kiểm soát tăng trưởng tín dụng không vượt quá mức dư nợ tín dụng tối đa năm 2026 đã được thông báo sau khi trừ đi số dư của các khoản mua hẳn miễn truy đòi bộ chứng từ phát sinh trong năm 2026. Quy định này khiến các ngân hàng phải tính toán lại dư địa tăng trưởng tín dụng dành cho các hoạt động cấp vốn khác.
Nghiệp vụ mua hẳn bộ chứng từ L/C cho phép ngân hàng mua lại bộ chứng từ theo thư tín dụng từ khách hàng thụ hưởng trước khi bộ chứng từ được thanh toán, theo các điều kiện nghiệp vụ tương ứng. Khi nghiệp vụ này được tính vào giới hạn tăng trưởng tín dụng theo yêu cầu của NHNN, ngân hàng không thể chỉ nhìn vào dư nợ cho vay thông thường để xác định toàn bộ dư địa tín dụng còn lại.
Theo VDSC, dựa trên số liệu cuối quý II/2026, SHB có quy mô nghiệp vụ này lớn nhất trong nhóm ngân hàng niêm yết được theo dõi, đạt khoảng 75.500 tỷ đồng. Techcombank đứng tiếp theo với khoảng 26.200 tỷ đồng, trong khi HDBank và MB ở mức khoảng 16.000 tỷ đồng mỗi ngân hàng.
Trên cơ sở phương pháp tính và số liệu được sử dụng trong báo cáo phân tích, VDSC ước tính SHB, TPBank và Techcombank đã vượt hạn mức tăng trưởng tín dụng được cấp cho năm 2026; Nam A Bank vượt nhẹ. Đây là kết quả tính toán của đơn vị phân tích, không phải kết luận chính thức của NHNN về việc các ngân hàng vi phạm hạn mức.
Từ đó, VDSC nhận định một số ngân hàng có thể phải giảm tốc giải ngân hoặc thu hẹp nghiệp vụ mua hẳn L/C trong quý IV/2026. TCBS cũng lưu ý nhóm ngân hàng chịu tác động đáng kể gồm SHB, MSB, TPBank, HDBank, MB và Techcombank.
Nếu dư địa tín dụng bị thu hẹp, các ngân hàng có thể phải ưu tiên vốn cho những khoản vay có hiệu quả cao hơn, điều chỉnh tiến độ giải ngân hoặc kiểm soát chặt việc mở rộng các nghiệp vụ sử dụng hạn mức. Điều này đặc biệt đáng chú ý vào quý cuối năm, khi nhu cầu vốn thường tăng cùng hoạt động sản xuất, kinh doanh và thanh toán của doanh nghiệp.
Việc điều chỉnh tốc độ tín dụng không nhất thiết đồng nghĩa ngân hàng sẽ ngừng cho vay. Mức độ tác động còn tùy thuộc vào hạn mức còn lại, phần dư nợ thuộc diện phải tính vào giới hạn, khả năng thu hồi vốn và phương án phân bổ vốn của từng nhà băng.
Trong bối cảnh đó, bài toán của các ngân hàng không chỉ là giảm lãi suất để hỗ trợ khách hàng mà còn phải cân đối chi phí vốn, bảo vệ biên lợi nhuận và sử dụng hiệu quả hạn mức tín dụng được giao. Với người vay, mức giảm lãi suất thực nhận và điều kiện tiếp cận vốn mới là những yếu tố cần quan tâm; còn với ngân hàng, chất lượng tăng trưởng tín dụng và khả năng duy trì NIM sẽ tiếp tục quyết định hiệu quả kinh doanh trong những tháng cuối năm.