Xem thêm thông tin của Báo PNVN trên
Phụ nữ Việt Nam
MỚI NHẤT ĐỘC QUYỀN MULTIMEDIA CHUYÊN ĐỀ
21/07/2026 - 11:20 (GMT+7)

Lồng ghép bình đẳng giới trong sửa đổi luật về văn hóa, thể thao, du lịch

Bài và ảnh: An Khê
Lồng ghép bình đẳng giới trong sửa đổi luật về văn hóa, thể thao, du lịch

Phụ nữ gìn giữ tiếng nói, nghề truyền thống và tri thức dân gian

Trong quá trình sửa đổi các luật về văn hóa, thể thao, du lịch, điện ảnh, thư viện và di sản văn hóa yêu cầu lồng ghép bình đẳng giới đang được đặt ra như một nền tảng để mở rộng cơ hội tham gia và thụ hưởng cho mọi công dân.

PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, cho rằng bình đẳng giới trong lĩnh vực văn hóa không phải là câu chuyện ưu tiên cho phụ nữ, mà là tạo dựng một môi trường để mọi chủ thể sáng tạo có điều kiện phát huy năng lực, đóng góp vào sự phát triển chung.

Hoàn thiện cơ chế để bình đẳng giới đi vào thực chất

Theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn, văn hóa là lĩnh vực của con người, của sáng tạo và sự đa dạng. Nếu một bộ phận trong xã hội chưa có điều kiện tham gia bình đẳng vào quá trình sáng tạo, truyền dạy, quản lý và hưởng thụ văn hóa thì nguồn lực phát triển vẫn chưa được khai thác đầy đủ.

Lồng ghép bình đẳng giới trong sửa đổi luật về văn hóa: Mở rộng cơ hội sáng tạo - Ảnh 1.

PGS.TS Bùi Hoài Sơn

Vì vậy, bình đẳng giới cần được nhìn nhận như một tiêu chí đánh giá chất lượng của chính sách văn hóa, không chỉ dừng lại ở việc khẳng định nguyên tắc trong các văn bản pháp luật.

Ông cho rằng, trong quá trình sửa đổi các luật liên quan đến văn hóa, thể thao và du lịch, vấn đề đặt ra không chỉ là bổ sung thêm các quy định về giới, mà cần xem xét chính sách từ góc độ cơ hội tiếp cận của các nhóm xã hội. Pháp luật có thể không có sự phân biệt giữa nam và nữ, nhưng điều kiện phát triển trong thực tế vẫn còn nhiều khác biệt.

Ở nhiều lĩnh vực, phụ nữ đang có những đóng góp ngày càng rõ nét nhưng vẫn gặp không ít rào cản. Trong nghệ thuật biểu diễn, điện ảnh, thể thao, du lịch hay bảo tồn di sản, sự tham gia của phụ nữ tại các vị trí quản lý, hội đồng chuyên môn và những nơi quyết định phân bổ nguồn lực vẫn chưa tương xứng. Bên cạnh đó là những định kiến về vai trò giới, áp lực gia đình, hạn chế trong cơ hội nghề nghiệp và nguy cơ làm việc trong môi trường chưa thực sự an toàn.

Theo ông, điểm cần tiếp tục hoàn thiện của chính sách hiện nay không nằm ở việc thiếu những tuyên bố về bình đẳng giới, mà ở các cơ chế bảo đảm thực hiện. Nhiều quy định mới dừng ở nguyên tắc chung, trong khi chưa có đầy đủ tiêu chí đánh giá, trách nhiệm thực hiện và công cụ giám sát.

Một trong những giải pháp được đặt ra là xây dựng hệ thống dữ liệu theo giới trong từng lĩnh vực. Việc thống kê số lượng nữ nghệ sĩ, đạo diễn, biên kịch, vận động viên, huấn luyện viên, hướng dẫn viên, nghệ nhân; tỷ lệ phụ nữ tham gia quản lý, tiếp cận ngân sách, giải thưởng, đào tạo chuyên môn sẽ giúp nhận diện rõ hơn khoảng cách giới và có chính sách phù hợp.

Một vấn đề khác được lưu ý là xây dựng môi trường làm việc an toàn trong các lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, điện ảnh, thể thao và du lịch. Đây là những môi trường có tính cạnh tranh cao, trong đó quan hệ nghề nghiệp nhiều khi phụ thuộc vào đạo diễn, nhà sản xuất, huấn luyện viên hoặc người quản lý.

Nếu thiếu cơ chế bảo vệ, người bị quấy rối, lạm dụng hoặc chịu sức ép từ quyền lực nghề nghiệp có thể lựa chọn im lặng thay vì lên tiếng. Vì vậy, cần quy định rõ trách nhiệm của các đơn vị trong việc xây dựng quy tắc ứng xử, tiếp nhận phản ánh, bảo vệ người tố giác và xử lý các hành vi vi phạm.

Môi trường làm việc an toàn không chỉ là yêu cầu về đạo đức nghề nghiệp mà còn là điều kiện để người lao động phát huy khả năng sáng tạo.

Bên cạnh đó, chính sách cần quan tâm đến những đặc thù của lao động nữ trong từng lĩnh vực. Với thể thao là điều kiện tập luyện, chăm sóc sức khỏe, thai sản và khả năng trở lại thi đấu. Với điện ảnh và nghệ thuật biểu diễn là điều kiện làm việc, các cảnh quay nhạy cảm, nguyên tắc đồng thuận và quyền từ chối của nghệ sĩ. Với du lịch là nhóm lao động nữ làm việc theo ca, theo mùa vụ hoặc trong khu vực phi chính thức.

Việc tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong các hội đồng nghệ thuật, hội đồng xét chọn, hội đồng thẩm định và các vị trí quản lý cũng cần được quan tâm. Đây không phải là việc áp đặt tỷ lệ cứng, mà nhằm bảo đảm tiếng nói và kinh nghiệm của phụ nữ được phản ánh trong quá trình hoạch định chính sách.

Xóa bỏ định kiến, trao thêm cơ hội cho phụ nữ 

Một nội dung đáng chú ý trong quá trình sửa đổi luật là xây dựng tiêu chí chống định kiến giới đối với các sản phẩm văn hóa sử dụng ngân sách nhà nước. Theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn, đây là yêu cầu cần thiết bởi những sản phẩm được đầu tư từ nguồn lực công không chỉ có giá trị nghệ thuật mà còn tác động đến nhận thức xã hội.

Tuy nhiên, ông lưu ý việc chống định kiến giới không đồng nghĩa với việc hạn chế quyền tự do sáng tạo. Nghệ thuật có quyền phản ánh những bất công, bạo lực hay định kiến từng tồn tại trong đời sống. Điều quan trọng là cách tác phẩm nhìn nhận và truyền tải những vấn đề đó, tránh việc vô tình cổ súy hoặc bình thường hóa các khuôn mẫu giới.

Theo hướng này, các tiêu chí đánh giá cần hướng đến việc tôn trọng phẩm giá phụ nữ, tránh cách nhìn nhận phụ nữ chỉ qua ngoại hình hoặc vai trò phụ thuộc. Đồng thời khuyến khích những tác phẩm phản ánh sự đa dạng về năng lực, lựa chọn và vị trí của phụ nữ trong xã hội.

Bên cạnh hình ảnh phụ nữ trong các sản phẩm văn hóa, vai trò của nữ nghệ nhân và người thực hành di sản cũng cần được nhìn nhận đầy đủ hơn. Trong nhiều cộng đồng, phụ nữ là những người gìn giữ tiếng nói, nghề thủ công, dân ca, nghi lễ và tri thức dân gian. Tuy nhiên, những đóng góp ấy đôi khi vẫn được xem như công việc tự nhiên của phụ nữ, thay vì được ghi nhận như một dạng lao động sáng tạo.

Tôn vinh là cần thiết, nhưng tôn vinh phải đi cùng quyền lợi, sinh kế và quyền tham gia quyết định. Khi người phụ nữ được sống bằng di sản, được bảo vệ và được trao quyền, di sản mới thực sự có sức sống lâu dài.

PGS.TS Bùi Hoài Sơn

PGS.TS Bùi Hoài Sơn cho rằng cần thay đổi cách tiếp cận, coi nữ nghệ nhân là chủ thể của di sản, là người nắm giữ tri thức và có quyền tham gia vào quá trình bảo vệ, phát huy giá trị di sản.

Cùng với sự tôn vinh, cần có chính sách cụ thể về thù lao truyền dạy, bảo hiểm, chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ không gian thực hành và cơ chế chia sẻ lợi ích khi di sản được khai thác phục vụ du lịch hoặc phát triển sản phẩm văn hóa.

Việc kết nối nữ nghệ nhân với trường học, bảo tàng, doanh nghiệp và nền tảng số cũng mở ra cơ hội để mở rộng không gian truyền nghề, quảng bá giá trị di sản và tạo sinh kế bền vững.

Lồng ghép bình đẳng giới trong sửa đổi các luật về văn hóa vì vậy không chỉ nhằm bảo đảm quyền bình đẳng, mà còn góp phần mở rộng nguồn lực sáng tạo cho xã hội. Khi mọi chủ thể đều có cơ hội tham gia, cống hiến và được ghi nhận, văn hóa sẽ có thêm động lực phát triển trong đời sống đương đại.

Ý kiến của bạn
Bình luận
Xem thêm bình luận