Xem thêm thông tin của Báo PNVN trên
Phụ nữ Việt Nam
MỚI NHẤT ĐỘC QUYỀN MULTIMEDIA CHUYÊN ĐỀ

Masan lãi hơn 10 nghìn tỷ đồng: Điều gì đứng sau tăng trưởng?

Phước Nguyên - Thuỳ Linh
Masan lãi hơn 10 nghìn tỷ đồng: Điều gì đứng sau tăng trưởng?

Tập đoàn Masan. Ảnh: Phước Nguyên

Sau 9 tháng năm 2026, Masan ghi nhận lợi nhuận sau thuế trước lợi ích cổ đông thiểu số đạt 10.325 tỷ đồng, tăng hơn gấp đôi cùng kỳ. Đằng sau mức tăng trưởng này là những động lực nào, khả năng duy trì ra sao và sức khỏe tài chính của tập đoàn đã thay đổi thế nào?

Động lực nào đưa lợi nhuận Masan vượt 10.000 tỷ đồng?

Công ty cổ phần Tập đoàn Masan (MSN) ghi nhận kết quả kinh doanh tăng trưởng mạnh trong 9 tháng năm 2026. Tuy nhiên, đằng sau mức lợi nhuận cao là những chuyển động đáng chú ý về chi phí, cơ cấu nợ và nhu cầu vốn.

Đánh giá sức khỏe tài chính của doanh nghiệp vì vậy không thể chỉ dựa vào tốc độ tăng lợi nhuận, mà cần xem xét cả khả năng tạo tiền và mức độ chủ động trong cân đối nguồn vốn.

Theo số liệu tài chính quản trị chưa kiểm toán công bố ngày 22/10/2026 của Masan, doanh thu thuần hợp nhất quý III đạt 36.981 tỷ đồng, tăng 74,7% so với cùng kỳ. Lợi nhuận sau thuế trước lợi ích cổ đông thiểu số đạt 4.552 tỷ đồng, tăng 2,4 lần. Tính chung 9 tháng, chỉ tiêu lợi nhuận này đạt 10.325 tỷ đồng, tăng 2,3 lần so với cùng kỳ năm 2025 và vượt kế hoạch cơ sở cả năm 2026 đã điều chỉnh là 10.000 tỷ đồng. Trong khi đó, lợi nhuận sau thuế sau lợi ích cổ đông thiểu số đạt 8.042 tỷ đồng.

Một trong những động lực đáng chú ý đến từ Masan High-Tech Materials (MSR), khi doanh nghiệp này chuyển từ lỗ 211 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế trước lợi ích cổ đông thiểu số trong 9 tháng năm 2025 sang lãi 4.350 tỷ đồng trong 9 tháng năm 2026, tương ứng mức cải thiện khoảng 4.561 tỷ đồng. Kết quả này gắn với diễn biến thuận lợi của giá vonfram, sản lượng tăng và hiệu quả vận hành được cải thiện. Tuy nhiên, do giá khoáng sản mang tính chu kỳ, khả năng duy trì mức lợi nhuận cao của MSR sẽ phụ thuộc đáng kể vào diễn biến thị trường vonfram trong những kỳ tiếp theo.

Bên cạnh MSR, hoạt động tiêu dùng – bán lẻ tiếp tục đóng góp vào tăng trưởng của Masan. Trong quý III/2026, nền tảng tiêu dùng tích hợp (cOS) ghi nhận doanh thu 22.656 tỷ đồng, tăng 18,7%; lợi nhuận sau thuế trước lợi ích cổ đông thiểu số đạt 3.640 tỷ đồng, tăng 18,1%. Techcombank cũng đóng góp 1.410 tỷ đồng lợi nhuận từ công ty liên kết, tăng 13,5% so với cùng kỳ. Những kết quả này cho thấy tăng trưởng lợi nhuận của Masan đến từ nhiều hoạt động, dù mức cải thiện đột biến tại MSR là yếu tố đáng chú ý khi đánh giá khả năng duy trì đà tăng trưởng.

Tuy nhiên, do Masan hoạt động trong nhiều lĩnh vực với biên lợi nhuận khác nhau, sự thay đổi cơ cấu doanh thu giữa các mảng cũng có thể tác động đến biên lợi nhuận gộp hợp nhất, nên chưa thể chỉ từ chỉ tiêu này kết luận hiệu quả kinh doanh cốt lõi suy giảm. Trong 9 tháng năm 2026, giá vốn hàng bán của Masan đạt 61.881 tỷ đồng, tăng khoảng 54,5% so với cùng kỳ, cao hơn tốc độ tăng doanh thu. Lợi nhuận gộp đạt 27.237 tỷ đồng, tăng 48,6%, nhưng biên lợi nhuận gộp giảm từ khoảng 31,4% xuống 30,6%. Diễn biến này cho thấy quy mô kinh doanh được mở rộng nhưng phần lợi nhuận giữ lại sau khi trừ giá vốn chưa tăng tương ứng với doanh thu. Nói cách khác, mỗi đồng doanh thu tạo ra ít lợi nhuận gộp hơn so với cùng kỳ.

Áp lực chi phí còn thể hiện ở khoản bán hàng. Trong 9 tháng, chi phí bán hàng đạt 13.004 tỷ đồng, tăng khoảng 25,1% so với cùng kỳ, tương ứng tăng hơn 2.600 tỷ đồng. Chi phí quản lý doanh nghiệp đạt gần 2.982 tỷ đồng, tăng khoảng 6,2%.

Chi phí bán hàng tăng có thể gắn với hoạt động phân phối, tiếp thị và mở rộng thị trường. Vấn đề cần đánh giá là mức chi tăng thêm có tạo ra doanh thu và lợi nhuận tương xứng hay không. Doanh thu tăng nhanh hơn chi phí bán hàng có thể phản ánh hiệu quả tốt hơn ở khâu này, nhưng chưa đủ để kết luận hiệu quả chung nếu chưa xem xét cơ cấu chi phí và kết quả của từng mảng kinh doanh.

Nhận diện áp lực phía sau khoản lợi nhuận khủng của Masan- Ảnh 1.

Một cửa hàng thuộc Masan.

Nợ phải trả tăng, đòn bẩy tài chính lại giảm

Bên cạnh kết quả lợi nhuận tăng trưởng mạnh, tình hình tài chính của Masan trong 9 tháng năm 2026 ghi nhận những diễn biến đáng chú ý: Tổng nợ phải trả và nợ ngắn hạn tăng, song chi phí lãi vay giảm và các chỉ tiêu phản ánh đòn bẩy tài chính lại có sự cải thiện.

Theo số liệu báo cáo tài chính, tại ngày 30/9/2026, tổng nợ phải trả của Masan đạt 96.592 tỷ đồng, tăng khoảng 13.350 tỷ đồng so với đầu năm. Trong đó, nợ ngắn hạn tăng từ 40.257 tỷ đồng lên 59.105 tỷ đồng, tương đương mức tăng 46,8%. Vốn chủ sở hữu đạt 53.630 tỷ đồng, đưa tỷ lệ nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu lên khoảng 1,8 lần.

Tuy nhiên, cần phân biệt tổng nợ phải trả với dư nợ vay có lãi. Nợ phải trả của doanh nghiệp còn bao gồm các khoản phải trả nhà cung cấp, nghĩa vụ thanh toán phát sinh từ hoạt động kinh doanh và các khoản nợ khác. Do đó, việc tổng nợ phải trả tăng không đồng nghĩa toàn bộ phần tăng thêm là nợ vay hoặc làm gia tăng tương ứng chi phí lãi vay.

Trên thực tế, theo công bố của Masan, tổng dư nợ vay hợp nhất tại cuối quý III/2026 đạt 69.656 tỷ đồng, tăng 7,4% so với cuối năm 2025, thấp hơn đáng kể so với tốc độ tăng của tổng nợ phải trả. Trong khi đó, tiền và các khoản tương đương tiền đạt 21.197 tỷ đồng, tăng 20,9%.

Đáng chú ý, tỷ lệ nợ vay ròng trên EBITDA trong 12 tháng gần nhất giảm từ 2,7 lần cuối năm 2025 xuống còn 2,0 lần tại cuối quý III/2026. Diễn biến này cho thấy đòn bẩy tài chính của Masan đã cải thiện khi xét trên tương quan giữa nợ vay ròng và khả năng tạo lợi nhuận trước lãi vay, thuế và khấu hao. Tuy nhiên, tỷ lệ này giảm có thể đến từ cả biến động nợ vay ròng và sự gia tăng EBITDA, nên cần xem xét đồng thời hai yếu tố để đánh giá mức độ cải thiện thực chất.

Chi phí lãi vay cũng ghi nhận xu hướng giảm. Trong 9 tháng năm 2026, Masan phát sinh khoảng 4.328 tỷ đồng chi phí lãi vay, giảm 5,3% so với cùng kỳ năm trước. Dù vậy, đây vẫn là khoản chi phí đáng kể, ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của tập đoàn.

Như vậy, bức tranh tài chính của Masan có cả những yếu tố tích cực và vấn đề cần tiếp tục theo dõi. Việc tiền mặt tăng, chi phí lãi vay giảm và tỷ lệ nợ vay ròng/EBITDA cải thiện cho thấy khả năng quản trị đòn bẩy tài chính có chuyển biến tích cực. Ở chiều ngược lại, quy mô nợ ngắn hạn tăng nhanh đặt ra yêu cầu theo dõi cơ cấu các khoản phải trả, lịch đáo hạn nợ vay và khả năng đáp ứng nghĩa vụ thanh toán.

Đặc biệt, trong bối cảnh Masan tiếp tục tăng tỷ lệ sở hữu tại Masan Consumer (MCH), hiệu quả sử dụng vốn và sự thay đổi của đòn bẩy tài chính sau giao dịch cũng là những yếu tố cần được tính đến. Theo công bố của doanh nghiệp, tỷ lệ nợ vay ròng/EBITDA ước tính ở mức khoảng 2,4 lần sau khi tính đến giao dịch mua thêm cổ phần MCH được thanh toán trong tháng 10/2026.

Nhìn tổng thể, sự gia tăng nợ phải trả chưa đủ cơ sở để kết luận rủi ro tài chính của Masan gia tăng tương ứng. Điều quan trọng là khả năng tạo dòng tiền từ hoạt động kinh doanh, cơ cấu các nghĩa vụ đến hạn và hiệu quả sử dụng nguồn vốn trong những kỳ tiếp theo.

Nhận diện áp lực phía sau khoản lợi nhuận khủng của Masan- Ảnh 2.

Ảnh minh hoạ.

Lợi nhuận cao có đi cùng khả năng tạo tiền?

Điểm cốt lõi cần làm rõ là lợi nhuận kế toán được chuyển hóa thành tiền đến đâu. Một doanh nghiệp có thể ghi nhận lợi nhuận cao nhưng vẫn cần nhiều vốn lưu động để duy trì hoạt động, trong khi các khoản phải thu chưa được thu hồi hoặc hàng tồn kho chưa chuyển thành tiền.

Masan công bố dòng tiền tự do trong 12 tháng gần nhất tính đến cuối quý III/2026 đạt 10.794 tỷ đồng, tăng 16% so với mức 9.309 tỷ đồng của cả năm 2025. Đây là tín hiệu tích cực về khả năng tạo nguồn tiền sau đầu tư theo cách tính của doanh nghiệp.

Tuy nhiên, dòng tiền tự do và lợi nhuận sau thuế có phạm vi, cách tính và kỳ đo lường khác nhau. Muốn đánh giá sâu hơn chất lượng lợi nhuận, cần tiếp tục đối chiếu dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh trong báo cáo lưu chuyển tiền tệ với lợi nhuận sau thuế, đồng thời xem xét biến động khoản phải thu, hàng tồn kho và khoản phải trả.

Nếu dòng tiền kinh doanh cải thiện tương ứng với lợi nhuận, doanh nghiệp có thêm cơ sở để chủ động thanh toán nợ và tài trợ cho kế hoạch đầu tư. Ngược lại, nếu nhu cầu vốn lưu động tăng nhanh, doanh nghiệp có thể phải cân đối thêm các nguồn tài trợ, ngay cả khi lợi nhuận kế toán vẫn tăng.

Với Masan, kết quả 9 tháng năm 2026 cho thấy lợi nhuận tăng mạnh, tỷ lệ nợ vay ròng/EBITDA giảm và dòng tiền tự do cải thiện. Tuy nhiên, giá vốn tăng nhanh hơn doanh thu, chi phí tài chính ròng vẫn đáng kể, trong khi nợ phải trả và nợ ngắn hạn tăng theo số liệu được cung cấp.

Những diễn biến này chưa đủ để kết luận doanh nghiệp gặp rủi ro thanh khoản. Vấn đề cần theo dõi là khả năng duy trì tăng trưởng lợi nhuận, chuyển hóa kết quả kinh doanh thành tiền và bố trí nguồn lực cho các nghĩa vụ đến hạn. Đây cũng là những yếu tố quyết định dư địa tài chính của Masan trong quá trình tiếp tục mở rộng hoạt động kinh doanh.

Ý kiến của bạn
Bình luận