Xem thêm thông tin của Báo PNVN trên
Phụ nữ Việt Nam
MỚI NHẤT ĐỘC QUYỀN MULTIMEDIA CHUYÊN ĐỀ

Phụ nữ vùng cao vươn lên thoát nghèo bằng cây măng

Nguyễn Hải Phong
Phụ nữ vùng cao vươn lên thoát nghèo bằng cây măng

Thành viên Hợp tác xã Sản xuất và Chế biến măng sạch Xuân Nha chế biến sản phẩm măng Bát Độ.

Xuân Nha, một xã biên giới vùng cao của tỉnh Sơn La, từ bao đời nay vẫn luôn chật vật với những mùa ngô, mùa sắn kém hiệu quả. Thế nhưng, bằng một quyết định táo bạo, những người phụ nữ dân tộc thiểu số ở đây đã biến giấc mơ về một nền nông nghiệp bền vững, tạo ra thương hiệu riêng của địa phương trở thành hiện thực với cây măng.

Khi phụ nữ vùng cao làm chủ tư duy sản xuất

Ở Xuân Nha, sinh kế của người dân luôn là một "cuộc đấu tranh" không ngừng với thiên nhiên khắc nghiệt. Tuy nhiên, giữa muôn trùng rừng núi ấy, có một thứ "sản vật trời cho" mang lại chút niềm vui và thu nhập thời vụ cho người dân đó là củ măng rừng.

Thế nhưng, "món quà" ấy cũng chỉ là sự tạm bợ, thiếu ổn định. Măng rừng không có số lượng nhiều, giá trị kinh tế lại chưa cao khi bán ra chỉ được 1.000 - 2.000 đồng/kg khiến cuộc sống của người dân vẫn quẩn quanh với cái đói, cái nghèo. Câu chuyện về một nền nông nghiệp bền vững, tạo ra thương hiệu riêng với người dân ở Xuân Nha dường như là một giấc mơ xa vời, cho đến khi một quyết định táo bạo được đưa ra bởi những người phụ nữ dân tộc thiểu số. Họ là những người đã đặt nền móng cho cây măng Bát Độ, một sản phẩm mang trong mình niềm hy vọng và bản sắc mới cho vùng đất biên viễn.

Người phụ nữ đi tiên phong trong hành trình ấy là chị Lò Thị Nguyễn, người dân tộc Mường. Năm nay mới 35 tuổi nhưng chị đã trở thành giám đốc điều hành của Hợp tác xã (HTX) Sản xuất và Chế biến măng sạch Xuân Nha, nắm trong tay tổng diện tích liên kết sản xuất lên đến hơn 281ha.

Sự ra đời của HTX Sản xuất và Chế biến măng sạch Xuân Nha vào năm 2020 không chỉ là một cột mốc về kinh tế mà còn là một dấu ấn xã hội sâu sắc, đánh dấu bước chuyển mình mạnh mẽ trong tư duy sản xuất của những người phụ nữ vùng cao. Trong số 9 thành viên sáng lập, có đến 7 người là nữ giới, chủ yếu là các chị em sinh sống quanh khu vực bản Tưn, xã Xuân Nha. Vai trò giám đốc điều hành được trao cho chị Lò Thị Nguyễn, một người phụ nữ được đánh giá là đầy bản lĩnh, quyết đoán.

"Ở trong hợp tác xã, các chị làm chính, còn các anh chủ yếu hỗ trợ những công việc nặng nhọc như bê, vác. Bởi vì, làm măng sạch, từ khâu chế biến đến đóng gói, đòi hỏi sự khéo léo và tỉ mỉ của người phụ nữ", chị Nguyễn chia sẻ về cơ cấu nhân sự độc đáo của HTX. Sự phân công này không chỉ là một sự sắp xếp công việc mà còn là sự khẳng định vị thế và khả năng lãnh đạo, điều hành của phụ nữ dân tộc thiểu số trong mô hình kinh tế tập thể. Họ không còn chỉ là người hỗ trợ công việc đồng áng đơn thuần, mà đã trở thành những "chủ thể" kinh tế, đưa ra quyết định sản xuất và kinh doanh.

Theo chị Nguyễn, trước khi măng Bát Độ bén duyên, cuộc sống của bà con Xuân Nha là một chuỗi ngày khó khăn với cây ngô, cây sắn. Chi phí đầu tư giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật cho một vụ mùa lên đến hàng chục triệu đồng. Nhưng khi thu hoạch, 1ha cũng chỉ mang lại doanh thu 20 - 30 triệu đồng, tức là lợi nhuận ròng chỉ hơn chục triệu đồng mỗi năm, số tiền không đủ trang trải cuộc sống.

Phụ nữ vùng cao Sơn La vươn lên thoát nghèo bằng cây măng- Ảnh 1.

Chị Lò Thị Nguyễn, Hợp tác xã Sản xuất và Chế biến măng sạch Xuân Nha, kiểm tra chất lượng sản phẩm măng Bát Độ.

Cơ duyên thay đổi số phận cả cộng đồng đến vào năm 2019, nhờ sự giới thiệu từ Trung tâm Khuyến nông tỉnh Sơn La với dự án đầy ý nghĩa: "Nâng cao quyền năng kinh tế cho phụ nữ dân tộc thiểu số thông qua phát triển chuỗi măng sạch". Đây chính là "bước ngoặt" không chỉ về kỹ thuật mà còn về tinh thần cho những người phụ nữ vốn quen với việc đồng áng, còn nhiều nhút nhát, rụt rè.

"Họ chỉ cho người dân cách mở hợp tác xã, trồng măng sao cho chuẩn, sản xuất và tiêu thụ cây măng Bát Độ, đúng một vòng tròn khép kín", chị Nguyễn kể lại. Từ việc làm thuê trên nương rẫy, người dân Xuân Nha được hướng dẫn cách làm chủ, cách tự mình đem lại hiệu quả kinh tế cao cho gia đình và cộng đồng.

Tuy nhiên, hành trình đi đến thành công của HTX Sản xuất và Chế biến măng sạch Xuân Nha không phải là một "con đường trải hoa hồng" mà phải đổi bằng những bài học đắt giá, thậm chí là sự mất mát lớn về tài chính và tinh thần. Và bản thân chị Nguyễn cũng không thể nào quên lần thất bại đầu tiên khiến chị rơi vào cảnh bất lực, suýt chút nữa khiến giấc mơ măng sạch tan vỡ.

"Vào năm 2020, khi bắt đầu tiếp cận dự án, tôi được giới thiệu đơn vị cung cấp củ giống bên Yên Bái. Tôi nóng lòng muốn triển khai nhanh nên đã kêu gọi bà con, đầu tư hơn 7.000 củ giống, hỗ trợ bà con trồng miễn phí và sau đó sẽ thu mua lại măng để bù chi phí" chị Nguyễn chia sẻ.

Bà con Xuân Nha, với tâm lý háo hức và tin tưởng, đã ồ ạt đăng ký nhận giống. Tuy nhiên, sự nhiệt tình đó lại thiếu đi sự chuẩn mực về kỹ thuật. Mỗi người tự lên nương trồng một kiểu, không tuân theo quy trình thống nhất. Bản thân chị Nguyễn lúc đó cũng chưa kịp định hình và hướng dẫn cụ thể cho mọi người.

"Thảm họa" xảy ra vào đúng thời điểm tháng 5, khi thời tiết nắng nóng đỉnh điểm, cộng thêm tình trạng thiếu nước tưới trầm trọng trên các nương trồng. "Tôi như chết lặng khi thấy mấy tháng trôi qua mà cây không phát triển, củ giống chết yểu hàng loạt", chị Nguyễn nhớ lại.

Mất trắng hơn 50 triệu đồng tiền vốn đầu tư cho củ giống, một "gia tài" lớn mà chị đã tích góp suốt nhiều năm kể từ khi thành lập HTX. Đó không chỉ là sự mất mát về vật chất mà còn là cú sốc tinh thần, sự thất vọng trước niềm tin của bà con. Không thể đòi lại vốn, chị đành chấp nhận chịu trách nhiệm cho thất bại đầu tiên này.

Ngay sau đó, các chuyên gia của đã kịp thời đến kiểm tra thực tế, mổ xẻ nguyên nhân và giải đáp thắc mắc cho chị Nguyễn. Bài học đắt giá được chị rút ra đó là trồng măng Bát Độ cần phải đúng thời điểm, đặc biệt là vào đầu mùa mưa, và cần đảm bảo nước tưới thường xuyên, liên tục trong giai đoạn đầu ươm củ giống.

Sau thất bại, chị Nguyễn và các thành viên HTX đã quyết tâm làm lại, tuân thủ nghiêm ngặt quy trình kỹ thuật. Họ đã học được rằng, nền móng của một chuỗi sản xuất bền vững phải là kỹ thuật chuẩn xác và sự đồng bộ trong quy trình.

Trong 1 - 2 năm đầu, để đảm bảo thu nhập cho bà con trong khi chờ măng lớn, HTX còn khuyến khích bà con trồng xen ngô, dong, giềng. Khi đã nắm vững kỹ thuật, HTX lại trở thành "cánh tay nối dài" của các chuyên gia, trực tiếp hướng dẫn lại cho bà con cách trồng chuẩn, cách chăm sóc để cây măng Bát Độ có thể bén rễ sâu, phát triển ổn định.

Sự kiên trì và bài học kinh nghiệm đã đem lại kết quả rõ rệt. Diện tích trồng măng Bát Độ tăng lên nhanh chóng. Từ khoảng 10ha ban đầu, đến nay toàn xã Xuân Nha đã phát triển vượt bậc, đạt hơn 280ha măng Bát Độ với gần 337 hộ trồng, tăng hàng chục lần so với thời điểm khởi đầu.

Không chỉ dừng lại ở kỹ thuật trồng, HTX còn được dự án và vốn đối ứng đầu tư tổng cộng hơn 600 triệu đồng để xây dựng cơ sở hạ tầng chế biến hiện đại. Khoản đầu tư này bao gồm việc mua củ giống chất lượng, xây dựng nhà sấy năng lượng mặt trời thân thiện với môi trường cùng hệ thống máy đóng gói, thùng chứa, bàn inox chế biến. Nhờ đó, HTX có khả năng sản xuất đa dạng các sản phẩm như măng sấy khô, măng chua, măng muối, đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh và chất lượng.

Phụ nữ vùng cao Sơn La vươn lên thoát nghèo bằng cây măng- Ảnh 2.

Cây măng Bát Độ trở thành cây trồng chủ lực của xã Xuân Nha.

Giá trị đa chiều

Măng Bát Độ, với vòng đời lên đến 35 - 40 năm, đã thực sự trở thành cây trồng chủ lực, mang lại sinh kế lâu dài, bền vững cho người dân Xuân Nha. Hiệu quả kinh tế mà cây măng Bát Độ mang lại đã chứng minh cho sự lựa chọn đúng đắn của địa phương.

Theo tính toán của chị Nguyễn, 1ha măng Bát Độ được trồng đúng kỹ thuật cho thu hoạch 8 - 10 tấn măng mỗi vụ, đem lại doanh thu ấn tượng khoảng 45 triệu đồng. Con số này cao hơn gấp nhiều lần so với lợi nhuận mà cây ngô, cây sắn mang lại trước đây.

Điểm đặc biệt là giá trị kinh tế của cây măng Bát Độ không chỉ nằm ở phần củ. Từ năm thứ hai, các hộ đã có thể thu hoạch lá và đến năm thứ ba, bắt đầu thu hoạch cả cành chiết. Lá măng Bát Độ nhờ có mùi thơm đặc trưng và độ bền tự nhiên được thu mua với giá khoảng 12.000 đồng/kg. Đây là một nguồn thu phụ đáng kể khi lá được nhiều thương lái và cơ sở làm bánh trong và ngoài tỉnh thu mua để gói các loại bánh truyền thống tạo nên một chuỗi giá trị đa chiều.

HTX còn tạo ra công ăn việc làm ổn định cho lực lượng lao động tại chỗ. Hàng năm, HTX tạo việc làm thời vụ cho 30 - 40 lao động địa phương, chủ yếu là phụ nữ dân tộc Thái và Mông. Mỗi lao động tại xưởng chế biến được trả công từ 120.000 - 150.000 đồng/ngày.

Ngoài ra, việc ươm và bán củ giống cũng trở thành một nguồn thu đáng kể. HTX thu mua cành măng của người dân với giá 5.000 đồng/cành, sau đó ươm thành củ giống và bán lại cho các tỉnh khác như Phú Thọ, Tuyên Quang với giá 13.000 - 15.000 đồng/cành. Hoạt động này vừa giúp bà con tận dụng được nguồn tài nguyên có sẵn, vừa mở rộng thị trường, tăng cường nguồn thu cho HTX và các hộ liên kết.

Nhờ những nỗ lực không ngừng, sản lượng măng thu mua của HTX đã tăng trưởng vượt bậc, đạt 130 tấn trong năm 2024, gấp đôi so với năm 2022, khẳng định vị thế ngày càng vững chắc của mô hình này.

Phụ nữ vùng cao Sơn La vươn lên thoát nghèo bằng cây măng- Ảnh 3.

Nhà sấy măng năng lượng mặt trời của Hợp tác xã Sản xuất và Chế biến măng sạch Xuân Nha.

Từ thương hiệu OCOP đến thị trường quốc tế

Thành công của HTX Xuân Nha không chỉ dừng lại ở năng suất mà còn thể hiện qua chất lượng và thương hiệu. Các dòng sản phẩm chính của HTX bao gồm: măng khô xe sợi, măng chua, măng nứa khô... đều được in tên thương hiệu "Măng sạch Xuân Nha" rõ ràng trên bao bì.

Đặc biệt, sản phẩm măng của HTX đã đạt chứng nhận OCOP 3 sao. Đây là một sự công nhận quan trọng về chất lượng và giá trị sản phẩm. Việc đạt OCOP 3 sao đã giúp thương hiệu "Măng sạch Xuân Nha" nâng cao uy tín, mở rộng cánh cửa tiếp cận các thị trường "khó tính".

Hiện nay, sản phẩm măng của HTX không chỉ được tiêu thụ tại một số thị trường trong nước mà còn để xuất khẩu sang các thị trường khó tính như Đài Loan và Nhật Bản. Đây là minh chứng rõ ràng nhất cho chất lượng và quy trình sản xuất sạch, khép kín mà HTX đã dày công xây dựng.

Mô hình "kinh tế tập thể" tiêu biểu như của chị Nguyễn thật sự đáng quý trong hành trình phát triển kinh tế tại xã Xuân Nha. Nó giúp người dân có thêm nguồn thu ổn định, thoát khỏi sự phụ thuộc hoàn toàn vào những cây trồng truyền thống kém hiệu quả.

Xây dựng bản sắc từ cây tre Bát Độ

Ông Đinh Văn Quân, Phó Chủ tịch UBND xã Xuân Nha, khẳng định tầm quan trọng của cây măng Bát Độ trong chiến lược phát triển nông nghiệp của địa phương. Ông cho biết, suốt 5 năm qua, xã luôn tìm hướng đi mang bản sắc riêng, không chạy theo việc phát triển đa dạng cây trồng một cách dàn trải.

"Giống như tinh thần của chương trình OCOP, mỗi địa phương chỉ cần một sản phẩm nổi bật để khách hàng nhớ đến," ông Quân nhấn mạnh. Sơn La đã có dâu tây Mộc Châu, xoài Yên Châu, na Mai Sơn… và giờ đây, Xuân Nha đang kiến tạo thương hiệu đặc trưng riêng của mình đó là cây măng Bát Độ.

Sau 5 năm đặt nền móng, diện tích măng Bát Độ đã lên đến gần 300ha với gần 337 hộ trồng, tạo ra một sự thay đổi thói quen sản xuất và sinh hoạt của bà con. Thói quen vào rừng hái măng kiểu may rủi dần bị "lãng quên", thay vào đó là nếp nghĩ làm nông nghiệp bài bản, có kế hoạch.

Sự chuyển đổi này đã mang lại sự ổn định rõ rệt trong cuộc sống người dân. Nhiều hộ đã thoát khỏi cảnh đói nghèo, tích góp được tiền để sửa nhà, mua sắm phương tiện đi lại. Cây măng Bát Độ không chỉ nuôi sống người dân mà còn kiến tạo một diện mạo mới cho Xuân Nha.

"Về lâu dài, măng Bát Độ sẽ là sản phẩm đặc trưng của nơi đây, đó vừa là niềm khao khát, vừa là nhiệm vụ của xã trong thời gian tới", ông Quân khẳng định. Mục tiêu không chỉ dừng lại ở HTX của chị Nguyễn, mà còn là sự phát triển thêm nhiều doanh nghiệp, cơ sở sản xuất măng ngay tại Xuân Nha, do chính người dân địa phương làm chủ, tạo nên một hệ sinh thái kinh tế tự lực, tự cường.

Triển khai thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021 - 2025, xác định phát triển kinh tế là nền tảng, tạo tiền đề để nâng cao đời sống người dân, xã Xuân Nha đẩy mạnh tuyên truyền, vận động nhân dân phát triển sản xuất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng hàng hóa. Nhiều mô hình trồng cây ăn quả, măng tre bát độ, chăn nuôi gia súc, phát triển kinh tế rừng được nhân rộng. Cùng với đó, xã chỉ đạo Đoàn Thanh niên, Hội LHPN, Hội Nông dân phối hợp mở lớp tập huấn, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cho hội viên; nhận ủy thác với Ngân hàng Chính sách xã hội và Ngân hàng Nông nghiệp cho các hội viên vay vốn phát triển sản xuất, đến nay tổng dư nợ cho các tổ chức hội, đoàn thể nhận ủy thác đạt trên 88 tỷ đồng. Toàn xã hiện có hơn 350ha cây ăn quả (220ha đang cho sản phẩm), 51ha mắc ca, gần 8.500 con trâu bò, hơn 76.500 con lợn, 76 lồng cá và hơn 15.000 ha rừng được bảo vệ.

Ý kiến của bạn
Bình luận