Xem thêm thông tin của Báo PNVN trên
Phụ nữ Việt Nam
MỚI NHẤT ĐỘC QUYỀN MULTIMEDIA CHUYÊN ĐỀ
13/08/2026 - 10:37 (GMT+7)

Sửa Bộ luật Tố tụng hình sự - Bài 3: Dự thảo còn “độ vênh” nào?

Quang Chiến

Dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi) bổ sung nhiều cơ chế, thủ tục mới. Tuy nhiên, vẫn còn những quy định cần tiếp tục rà soát để bảo đảm áp dụng thống nhất và đồng bộ với các luật có liên quan.

Tinh gọn hơn, phân hóa cách xử lý

Trao đổi với Báo Phụ nữ Việt Nam, PGS.TS Lê Huỳnh Tấn Duy - Phó Trưởng khoa Luật hình sự, Trưởng Bộ môn Luật Tố tụng hình sự, Trường Đại học Luật TP.HCM đánh giá, Dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi) có những nội dung được sửa đổi, bổ sung đúng và trúng với yêu cầu của thực tiễn.

Điểm đáng chú ý là Dự thảo đổi mới tố tụng hình sự theo hướng tinh gọn, hiệu quả, nhân đạo và phân hóa việc xử lý trách nhiệm hình sự. Nguyên tắc này được thể hiện tại Điều 23, thông qua các cơ chế như không khởi tố vụ án hình sự, miễn trách nhiệm hình sự, tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự, thủ tục điều tra, truy tố, xét xử rút gọn và các cơ chế, thủ tục khác theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và Bộ luật Hình sự. Việc phân hóa phải bảo đảm yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân và phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.

Dự thảo đồng thời bổ sung thủ tục tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự, hoàn thiện thủ tục rút gọn theo hướng phân thành trường hợp bắt buộc và tùy nghi; tăng nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán; bổ sung một số quy định về bảo đảm quyền con người, xử lý vật chứng, tài sản và phương thức tố tụng điện tử.

Sửa Bộ luật Tố tụng hình sự - Bài 3: Dự thảo còn “độ vênh” nào? - Ảnh 1.

PGS.TS Lê Huỳnh Tấn Duy - Phó Trưởng khoa Luật hình sự, Trưởng Bộ môn Luật Tố tụng hình sự, Trường Đại học Luật TP.HCM

Ngoài cơ chế bị can, bị cáo tự nguyện nhận tội, chấp nhận hình phạt đang được quan tâm, PGS.TS Lê Huỳnh Tấn Duy lưu ý thêm các nội dung như giám sát điện tử thay thế tạm giam, mở rộng trường hợp khởi tố theo yêu cầu của bị hại, bổ sung một số trường hợp bào chữa chỉ định và quy định riêng về thủ tục tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự.

Những thay đổi này cũng đặt ra yêu cầu tiếp tục rà soát các quy định có liên quan. Theo PGS.TS Lê Huỳnh Tấn Duy, Dự thảo vẫn còn một số nội dung cần nghiên cứu để bảo đảm nhận thức, áp dụng thống nhất trong thực tiễn và đồng bộ với các văn bản pháp luật khác.

Những "độ vênh" cần được xử lý trước khi áp dụng

Trước hết là quy định liên quan đến người chưa thành niên bị buộc tội từ chối người bào chữa chỉ định. Đoạn cuối khoản 3 Điều 82 Dự thảo quy định, trường hợp từ chối người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng lập biên bản về việc từ chối và chấm dứt việc chỉ định người bào chữa. Trong khi đó, khoản 4 Điều 130 Luật Tư pháp người chưa thành niên quy định trường hợp người chưa thành niên từ chối người bào chữa theo chỉ định thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng vẫn chỉ định người bào chữa cho họ.

Ông Duy cho rằng quy định của Dự thảo cần được sửa đổi để bảo đảm tính đồng bộ với Luật Tư pháp người chưa thành niên.

Không chỉ quy định về bào chữa chỉ định, một vấn đề khác liên quan trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của người bào chữa là việc giao chứng cứ do người bào chữa thu thập. Khoản 2 Điều 86 Dự thảo quy định, tùy từng giai đoạn tố tụng, khi thu thập được chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến việc bào chữa, người bào chữa phải kịp thời giao cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng để đưa vào hồ sơ vụ án.

Theo ông Duy, quy định này hiện có thể dẫn tới hai cách hiểu: một là người bào chữa có nghĩa vụ "giao ngay" chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến việc bào chữa đã thu thập được; hai là người bào chữa có quyền tự quyết định thời điểm giao nộp.

Ở một khâu khác của quá trình tố tụng, vấn đề về thẩm quyền của Viện kiểm sát cũng cần được rà soát. Khoản 2 Điều 166 Dự thảo quy định Viện kiểm sát có nhiệm vụ, quyền hạn kiểm sát việc kiểm tra, xác minh và lập hồ sơ giải quyết nguồn tin về tội phạm của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; kiểm sát việc tạm đình chỉ và phục hồi giải quyết nguồn tin về tội phạm.

Trong khi đó, theo điểm a khoản 2 Điều 7 Thông tư liên tịch số 04/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 27/6/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực còn có thẩm quyền thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, phân loại, xử lý nguồn tin về tội phạm của Công an cấp xã, Đồn Công an.

Sự thống nhất giữa Dự thảo với các quy định đang được áp dụng cũng được đặt ra ở cơ chế trả hồ sơ khi Tòa án xét thấy cần xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn tội danh Viện kiểm sát truy tố. Theo khoản 3 Điều 303 Dự thảo, trong trường hợp này, Tòa án trả hồ sơ để Viện kiểm sát truy tố lại và thông báo rõ lý do cho bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo, người bào chữa biết.

Tuy nhiên, theo Điều 7 Thông tư liên tịch số 02/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP ngày 22/12/2017, đây là trường hợp trả hồ sơ điều tra bổ sung, chứ không chỉ là trả hồ sơ để Viện kiểm sát truy tố lại.

Ngoài ra, quy định của Dự thảo về thủ tục xét tha tù trước thời hạn có điều kiện nên chuyển về Luật Thi hành án hình sự. Đây là một thủ tục phát sinh trong quá trình chấp hành án phạt tù của phạm nhân. Do vậy, tương tự như các thủ tục tạm đình chỉ, giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, thủ tục xét tha tù trước thời hạn có điều kiện thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật Thi hành án hình sự.

Bên cạnh những điểm cần rà soát giữa Dự thảo với các văn bản liên quan, ông Duy còn đặt vấn đề về tư cách tố tụng và quyền của một số chủ thể.

Về kỹ thuật lập pháp, ông cho rằng nên tách người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp ra khỏi người bị bắt. Theo giải thích hiện nay trong Dự thảo, người bị bắt là "người bị buộc tội", còn người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp thì không. Do đó, việc quy định quyền và nghĩa vụ của hai tư cách tham gia tố tụng trong cùng một điều luật là chưa hợp lý.

Đáng chú ý, Dự thảo không xem người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp là người bị buộc tội nhưng lại trao cho họ quyền tự bào chữa, nhờ người bào chữa. Theo ông Duy, điểm này không phù hợp về lý luận.

Từ vị trí pháp lý của người tham gia tố tụng, PGS.TS Lê Huỳnh Tấn Duy tiếp tục lưu ý đến một quyền quan trọng của người bị buộc tội và người bào chữa.

Đó là quyền gặp riêng giữa người bào chữa và người bị buộc tội đang bị tạm giữ, tạm giam, với điều kiện nội dung trao đổi được bảo mật. Ông Duy dẫn văn kiện "Những nguyên tắc cơ bản về vai trò của Luật sư", được Đại hội Liên Hợp Quốc lần thứ tám về Phòng ngừa tội phạm và đối xử với người phạm tội thông qua ngày 07/9/1990, để đề xuất bổ sung quyền này.

Quyền gặp riêng cũng gắn với một vấn đề khác mà ông Duy cho rằng cần được nghiên cứu, đó là khả năng thu thập chứng cứ của người bào chữa.

Theo ông, để bảo đảm hiệu quả việc thu thập chứng cứ của người bào chữa, cũng cần nghiên cứu bổ sung trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc cung cấp chứng cứ cho người bào chữa, trừ những trường hợp có lý do hợp lý.

Cùng với đó là nghiên cứu bổ sung quyền từ chối khai báo của người làm chứng trong những trường hợp vì quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống với người bị buộc tội hoặc vì lý do nghề nghiệp. Theo ông Duy, quyền này đã được pháp luật nhiều quốc gia ghi nhận, trong đó có Mỹ, Nga, Đức.

Hoàn thiện từ những vấn đề đặt ra trong thực tiễn

Từ những điểm cụ thể trên, ông Duy đặt vấn đề rộng hơn về việc tiếp tục rà soát các quy định để bảo đảm tính thống nhất của khung pháp lý tư pháp hình sự.

Trước hết là nhóm quy định về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, cần được đối chiếu với Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân.

Nhóm quy định về thủ tục tạm hoãn truy cứu trách nhiệm hình sự cần được đối chiếu với Bộ luật Hình sự (sửa đổi). Đối với hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự, cần đối chiếu với Luật Tương trợ tư pháp về hình sự, Luật Dẫn độ, Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù và Công ước Liên hợp quốc về chống tội phạm mạng. Các điều luật khác của Dự thảo có tính dẫn chiếu cũng cần được rà soát.

Bên cạnh yêu cầu bảo đảm tính thống nhất giữa các quy định hiện hành, ông Duy cho rằng quá trình sửa đổi lần này cũng là cơ hội để tiếp tục nghiên cứu những vấn đề mới của tố tụng hình sự.

Ở góc độ tiếp tục hoàn thiện pháp luật, ông Duy đề xuất lồng ghép các chương trình tư pháp phục hồi, đặc biệt là hòa giải giữa bị hại và người phạm tội. Theo ông, cách tiếp cận này góp phần nâng cao vị thế, vai trò và bảo đảm tốt hơn quyền lợi hợp pháp của bị hại trong quá trình giải quyết vụ án hình sự; đồng thời là cách tiếp cận hiện đại, nhân văn đã được nhiều quốc gia áp dụng.

Ông cũng đề xuất hoàn thiện khái niệm chứng cứ trên cơ sở một học thuyết phù hợp, hiện đại, đồng thời sửa đổi, bổ sung toàn diện hơn về chứng cứ điện tử, từ thu thập, bảo quản, kiểm tra, đánh giá đến sử dụng.

Không dừng ở việc hoàn thiện quy định về chứng cứ, ông Duy còn đề xuất bổ sung những cơ chế mà pháp luật tố tụng hình sự một số nước đã ghi nhận.

Một hướng nghiên cứu khác là bổ sung thủ tục thu hồi tài sản do phạm tội mà có không qua kết tội. Theo ông Duy, đây là thủ tục đã được ghi nhận trong pháp luật tố tụng hình sự một số nước, trong đó có Trung Quốc (tại Điều 298 - Điều 301 Luật Tố tụng hình sự năm 2018).

Cuối cùng, ông Duy đề xuất nghiên cứu kết hợp truy tố bắt buộc với tùy nghi truy tố. Theo đó, có thể trao cho Viện kiểm sát quyền xem xét, quyết định không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với những trường hợp cụ thể, trên cơ sở cân nhắc nhiều lợi ích khác nhau nhưng phải có cơ chế giám sát chặt chẽ việc thực hiện quyền hạn này.

Đáng chú ý, những đề xuất của PGS.TS Lê Huỳnh Tấn Duy không chỉ dừng ở việc xử lý các điểm chưa thống nhất trong Dự thảo. Ông đặt vấn đề tiếp tục nghiên cứu những hướng mới như tư pháp phục hồi, hoàn thiện quy định về chứng cứ điện tử, thu hồi tài sản do phạm tội mà có không qua kết tội và kết hợp truy tố bắt buộc với tùy nghi truy tố.

Cùng với việc bổ sung những cơ chế mới, theo ông Duy, cần tiếp tục rà soát toàn bộ khung pháp lý tư pháp hình sự để các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự thống nhất với các luật có liên quan và đủ rõ để áp dụng thống nhất trong thực tiễn.

Ý kiến của bạn
Bình luận
Xem thêm bình luận