Tài khóa mở rộng: Dòng tiền đang được đưa vào nền kinh tế thế nào?
Ảnh minh họa
Hơn 173.000 tỷ đồng thuế, phí được miễn, giảm và gia hạn trong 7 tháng, cùng hơn 433.000 tỷ đồng vốn đầu tư công đã giải ngân đến đầu tháng 8 đang tạo thêm lực đẩy cho tổng cầu. Tuy nhiên, tác động lớn hơn của chính sách tài khóa không chỉ nằm ở số tiền được đưa vào nền kinh tế, mà ở khả năng chuyển hóa nguồn lực này thành dòng tiền kinh doanh, đơn hàng, đầu tư và niềm tin của doanh nghiệp, thị trường.
Từ giảm nghĩa vụ thuế đến cải thiện dòng tiền doanh nghiệp
Trong bối cảnh nền kinh tế đặt mục tiêu tăng trưởng cao, chính sách tài khóa đang được vận hành theo hướng vừa hỗ trợ tổng cầu, vừa tạo thêm dư địa cho doanh nghiệp duy trì và mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh. Điểm đáng chú ý là các giải pháp không chỉ tập trung vào một kênh, mà được triển khai đồng thời qua đầu tư công, thuế, phí, tiền thuê đất và cải cách thủ tục.
Trong 7 tháng năm 2026, Nhà nước đã thực hiện miễn, giảm khoảng 131,6 nghìn tỷ đồng và gia hạn khoảng 42 nghìn tỷ đồng tiền thuế, tương đương tổng nguồn lực khoảng 173,6 nghìn tỷ đồng được hỗ trợ thông qua các chính sách này.
Nếu nhìn đơn thuần dưới góc độ ngân sách, đây là khoản thu được giảm hoặc lùi thời điểm nộp. Nhưng dưới góc độ doanh nghiệp, khoản tiền này lại có thể trở thành vốn lưu động trong ngắn hạn, giúp doanh nghiệp duy trì dòng tiền, trả lương, thanh toán cho nhà cung cấp, nhập nguyên vật liệu hoặc tiếp tục một kế hoạch đầu tư đang dang dở.
Đây chính là tác động trực tiếp nhất của chính sách tài khóa đối với khu vực doanh nghiệp: giảm nghĩa vụ tài chính tại thời điểm doanh nghiệp cần tiền nhất.

TS. Nguyễn Văn Hiến, nguyên Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Tài chính - Marketing, phân tích vai trò của chính sách tài khóa được thể hiện trên 3 phương diện chủ yếu: thúc đẩy tổng cầu thông qua đầu tư công; hỗ trợ doanh nghiệp và người dân thông qua chính sách thuế, phí; đồng thời tạo lập hạ tầng và năng lực sản xuất mới cho nền kinh tế.
Trong đó, chính sách thuế có tác dụng tương đối nhanh. Việc tiếp tục giảm 2% thuế giá trị gia tăng, gia hạn thời hạn nộp thuế và tiền thuê đất, giảm 46 khoản phí, lệ phí... giúp giảm chi phí và tạo thêm dư địa dòng tiền cho doanh nghiệp.
Tác động này đặc biệt có ý nghĩa với doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhóm thường có khả năng chống chịu tài chính thấp hơn các doanh nghiệp lớn. Khi một khoản thuế được giảm hoặc thời điểm nộp được lùi lại, doanh nghiệp không chỉ tiết kiệm được chi phí mà còn có thêm thời gian xoay vòng vốn.
Nếu dòng tiền đó được đưa trở lại sản xuất, chính sách tài khóa sẽ tạo ra hiệu ứng vòng hai: doanh nghiệp có tiền để mua nguyên vật liệu, duy trì việc làm và trả lương; thu nhập của người lao động được duy trì; sức mua được củng cố; từ đó tạo thêm đơn hàng cho những doanh nghiệp khác.
Tuy nhiên, hiệu quả cuối cùng không nằm ở việc doanh nghiệp được giảm bao nhiêu thuế, mà nằm ở việc nguồn tiền được giữ lại có được chuyển thành hoạt động kinh tế thực hay không.
Nếu thị trường tiêu thụ yếu, doanh nghiệp không có đơn hàng hoặc không đủ tự tin mở rộng sản xuất, phần tiền được giải phóng từ chính sách tài khóa có thể chỉ được dùng để trả nợ, duy trì thanh khoản hoặc nằm lại trong tài khoản. Khi đó, tác động đến tăng trưởng sẽ thấp hơn đáng kể so với quy mô hỗ trợ trên danh nghĩa.
Đây cũng là lý do khả năng hấp thụ chính sách đang trở thành vấn đề quan trọng không kém quy mô hỗ trợ.
Đầu tư công tạo "vốn mồi", thị trường chờ hiệu ứng lan tỏa
Nếu chính sách thuế tác động trực tiếp đến dòng tiền doanh nghiệp thì đầu tư công lại tạo ra tác động theo chuỗi dài hơn.
Năm 2025, tổng số vốn đầu tư công được giải ngân đạt khoảng 887.581,8 tỷ đồng, tương đương khoảng 98% kế hoạch được giao. Đây là nền tảng quan trọng cho việc tiếp tục phát huy vai trò của đầu tư công trong tổng cầu năm 2026.
Tính đến hết ngày 6/8/2026, cả nước giải ngân 433.453,9 tỷ đồng vốn đầu tư công, đạt 42,7% kế hoạch.
Theo TS. Nguyễn Văn Hiến, đây là nguồn lực rất lớn để hỗ trợ tổng cầu, tạo việc làm và thúc đẩy các ngành xây dựng, vật liệu, vận tải, cơ khí và dịch vụ liên quan.
Điểm quan trọng của đầu tư công không chỉ nằm ở giá trị của từng dự án. Khi một tuyến đường được hoàn thành, một sân bay được đưa vào khai thác hay hạ tầng logistics được cải thiện, chi phí vận chuyển và thời gian lưu thông hàng hóa có thể giảm xuống. Không gian phát triển của doanh nghiệp cũng được mở rộng, từ đó tạo điều kiện thu hút thêm đầu tư tư nhân.
Nói cách khác, đầu tư công không chỉ tạo ra một khoản chi trong hiện tại mà còn có thể làm thay đổi năng lực sản xuất của nền kinh tế trong nhiều năm sau đó.
Các ngành xây dựng, vật liệu, thép, xi măng, vận tải, máy móc, thiết bị và dịch vụ liên quan vì vậy là những nhóm có khả năng hưởng lợi trực tiếp hơn khi tiến độ giải ngân được đẩy nhanh. Nhưng hiệu ứng lan tỏa không dừng ở đó. Khi hạ tầng giao thông và logistics được cải thiện, các khu công nghiệp, thương mại, bất động sản và dịch vụ tại những khu vực có hạ tầng mới cũng có thể được hưởng lợi.
Với thị trường chứng khoán, đây là một trong những lý do dòng tiền thường quan tâm đến câu chuyện đầu tư công không chỉ ở con số giải ngân, mà còn ở danh mục dự án, tiến độ thi công và khả năng chuyển hóa đầu tư công thành doanh thu, lợi nhuận của doanh nghiệp.

Tuy nhiên, tác động này không tự động xảy ra. TS. Nguyễn Văn Hiến lưu ý, những tháng cuối năm là giai đoạn cao điểm để hoàn thành kế hoạch giải ngân, nhưng nếu các dự án tiếp tục vướng mắc về giải phóng mặt bằng, thủ tục đầu tư, đấu thầu hoặc nguồn cung vật liệu xây dựng, hiệu quả lan tỏa của đầu tư công sẽ không đạt như kỳ vọng.
Điều đó cho thấy một nghịch lý: nền kinh tế có nguồn lực tài khóa lớn nhưng nếu khâu thực thi chậm, dòng tiền vẫn chưa thể chuyển thành tăng trưởng tương ứng.
Thách thức lớn nhất: biến dư địa tài khóa thành tăng trưởng thực
Những chính sách trên đã tạo nền tảng quan trọng cho tăng trưởng. GDP 6 tháng đầu năm 2026 tăng 8,18% so với cùng kỳ. Dù tăng trưởng là kết quả tổng hợp của nhiều động lực, đầu tư công, chính sách thuế, phí và các nhiệm vụ chi ngân sách đã góp phần củng cố tổng cầu và niềm tin thị trường.
Nhưng bước sang những tháng cuối năm, bài toán không còn đơn thuần là "hỗ trợ thêm bao nhiêu", mà là hỗ trợ như thế nào để doanh nghiệp có thể hấp thụ và biến nguồn lực thành tăng trưởng thực chất.
TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, cho rằng giải ngân đầu tư công cần tăng tốc hơn nữa, trong khi những động lực tăng trưởng mới như khoa học công nghệ, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh vẫn cần thêm thời gian để thẩm thấu và phát huy hiệu quả.
Theo ông, để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số trong năm nay, cần làm mới các động lực truyền thống, khai thác hiệu quả các động lực mới, đồng thời tháo gỡ kịp thời các vướng mắc để kích cầu đầu tư và nâng cao trách nhiệm người đứng đầu trong phân bổ, giải ngân đầu tư công.
Ở đây xuất hiện một vấn đề lớn đối với chính sách tài khóa: khả năng hấp thụ của nền kinh tế.
Một chính sách hỗ trợ dù có quy mô lớn nhưng nếu doanh nghiệp không có đơn hàng, không có dự án đầu tư khả thi hoặc không đủ năng lực tiếp cận vốn thì tác động đến tăng trưởng sẽ bị hạn chế. Ngược lại, nếu nguồn lực tài khóa được đưa đúng vào những khu vực có khả năng tạo ra sản lượng, việc làm và năng lực sản xuất mới, hiệu ứng lan tỏa sẽ lớn hơn nhiều.
Vì vậy, chính sách tài khóa trong giai đoạn tới cần chuyển dần từ tư duy "giảm khó khăn" sang tạo năng lực tăng trưởng.
Việc giảm thuế, phí vẫn cần thiết để hỗ trợ doanh nghiệp trong ngắn hạn. Nhưng về dài hạn, dư địa tài khóa cần được ưu tiên cho hạ tầng chiến lược, khoa học công nghệ, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và những lĩnh vực có khả năng nâng năng suất của nền kinh tế.

Đây cũng là điểm cần sự phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tài khóa và tiền tệ. Khi tài khóa tạo ra cầu và giải phóng một phần nguồn lực cho doanh nghiệp, chính sách tiền tệ cần hỗ trợ để những doanh nghiệp có dự án, đơn hàng và khả năng trả nợ có thể tiếp cận vốn với chi phí hợp lý.
Ngược lại, nếu tín dụng tăng nhưng nhu cầu đầu tư thực chất không đủ mạnh, dòng vốn có thể không đi vào sản xuất mà tìm đến những kênh tài sản khác, làm giảm hiệu quả của chính sách và tạo thêm sức ép lên ổn định vĩ mô.
Từ góc độ thị trường, điều đáng quan tâm vì vậy không chỉ là quy mô chính sách tài khóa, mà là doanh nghiệp nào có khả năng chuyển hóa nguồn lực đó thành doanh thu, lợi nhuận và năng lực sản xuất mới.
Với doanh nghiệp xây dựng, vật liệu, thép, hạ tầng, vận tải hay máy móc, thị trường sẽ theo dõi tốc độ triển khai dự án, giá trị hợp đồng và khả năng ghi nhận doanh thu. Với doanh nghiệp sản xuất và tiêu dùng, tác động lại nằm nhiều hơn ở sự phục hồi của sức mua. Trong khi đó, các doanh nghiệp công nghệ, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh có thể hưởng lợi nếu chính sách tài khóa ngày càng ưu tiên cho những động lực tăng trưởng mới.
Như vậy, thị trường sẽ không phản ứng đơn thuần với số tiền ngân sách được giải ngân, mà với chất lượng của dòng tiền và khả năng chuyển hóa dòng tiền đó thành tăng trưởng lợi nhuận.
Tại họp báo Chính phủ thường kỳ tháng 7/2026, Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Đức Chi nhấn mạnh khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực tăng trưởng mới hết sức quan trọng và sẽ tiếp tục trở thành động lực chủ yếu của nền kinh tế trong thời gian tới.
Điều này đặt ra yêu cầu cho chính sách tài khóa trong giai đoạn tiếp theo: không chỉ làm nhiệm vụ "giảm đau" cho doanh nghiệp, mà phải tạo điều kiện để doanh nghiệp đầu tư cho chu kỳ tăng trưởng mới.
Trong bối cảnh mục tiêu tăng trưởng cao đi cùng yêu cầu kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô, dư địa tài khóa vì thế cần được sử dụng có trọng tâm. Một đồng ngân sách bỏ ra không chỉ cần tạo ra một đồng cầu trong hiện tại, mà quan trọng hơn phải tạo thêm năng lực sản xuất, năng suất và sức cạnh tranh cho nền kinh tế trong tương lai.
TS. Cấn Văn Lực cho rằng cần kiên định mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, trong đó chính sách tài khóa là chủ lực, chính sách tiền tệ bổ trợ theo hướng thận trọng, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ và hiệu quả với nhau cũng như với các chính sách vĩ mô khác.
Điểm then chốt của chính sách tài khóa những tháng cuối năm vì thế không nằm ở việc mở rộng đến đâu, mà là mở rộng vào đâu và hấp thụ như thế nào.
Nếu dòng tiền ngân sách thực sự đi vào sản xuất, đầu tư và sức mua, chính sách tài khóa sẽ không chỉ giúp nền kinh tế vượt qua những khó khăn ngắn hạn, mà còn có thể trở thành lực đẩy cho một chu kỳ tăng trưởng mới. Ngược lại, nếu nguồn lực bị chậm lại ở khâu thực thi hoặc không tìm được nơi hấp thụ hiệu quả, quy mô hỗ trợ lớn chưa chắc tạo ra hiệu quả tăng trưởng tương xứng.