Thảm sát ở Đồng Nai: Chủ nhà được quyền làm gì khi người lạ đột nhập?
Vụ án mạng rạng sáng 3/9 tại Đồng Nai khiến 3 người trong một gia đình tử vong, 1 người bị thương nặng. Ảnh: TPO
Sau vụ thảm sát tại Đồng Nai, một câu hỏi được đặt ra: Nửa đêm phát hiện người lạ cạy cửa đột nhập, trên tay có dao, chủ nhà có được tấn công trước? Nếu người lạ tử vong, chủ nhà có phải đi tù?
Tình huống trong câu hỏi này gợi nhớ đến vụ án Nguyễn Thúy Hằng ở Long An. Hằng đã chém chết người nghi ăn trộm đột nhập vào nhà.
Nhân câu hỏi này, tôi nhớ đến một nguyên tắc pháp lý của Mỹ - Castle Doctrine. Nếu dịch sát nghĩa có thể gọi là "học thuyết lâu đài", xuất phát từ quan niệm ngôi nhà của một người là lâu đài của người đó. Nhưng nếu muốn diễn đạt đúng bản chất pháp lý, có thể xem đây là nguyên tắc tự vệ tại nơi cư trú.
Tinh thần cơ bản của nguyên tắc này khá dễ hiểu: Khi một người đang ở hợp pháp trong chính ngôi nhà của mình và phải đối diện với một sự đe dọa nguy hiểm hiện hữu, pháp luật không buộc họ phải bỏ chạy khỏi nhà rồi mới được quyền sử dụng vũ lực để tự vệ.
Trong những điều kiện nhất định, vũ lực được phép sử dụng thậm chí có thể là vũ lực có khả năng gây chết người.
Phạm vi của Castle Doctrine tại Mỹ không hoàn toàn giống nhau giữa các bang. Có bang giới hạn chủ yếu trong nhà ở, có bang mở rộng sang xe hoặc nơi làm việc. Nhưng điểm cốt lõi vẫn là không đặt người đang bị tấn công trong chính nơi trú ẩn của mình vào nghĩa vụ phải rút lui trước khi chống trả.
Cần lưu ý, Castle Doctrine không có nghĩa cứ ai bước chân trái phép vào đất nhà mình thì mình được quyền bắn.
Xâm phạm tài sản và đe dọa tính mạng là hai chuyện khác nhau. Một người trèo hàng rào vào hái trộm vài trái cây không đương nhiên tạo ra quyền dùng vũ lực gây chết người. Một người đã quay lưng bỏ chạy cũng không thể tiếp tục bị đánh, chém với lý do tự vệ.
Điều mà nguyên tắc tự vệ tại nơi cư trú muốn giải quyết là một tình huống khó hơn: Người dân phải làm gì khi giữa đêm khuya, trong không gian đáng lẽ an toàn nhất của mình, một người lạ dùng vũ lực phá cửa, đột nhập và những dấu hiệu khách quan cho thấy tính mạng của những người bên trong đang bị đe dọa?
Pháp luật Việt Nam không buộc phải bỏ chạy
Pháp luật Việt Nam thực ra không thiếu quy định về quyền tự vệ.
Điều 22 Bộ luật Hình sự quy định phòng vệ chính đáng là hành vi của một người nhằm bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc người khác mà chống trả một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm. Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm.
Chỉ khi việc chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi xâm hại thì mới đặt vấn đề vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng.
Quan trọng hơn, pháp luật Việt Nam không quy định người bị tấn công phải bỏ chạy trước rồi mới được phòng vệ. Cũng không có nguyên tắc nào buộc một người phải chờ bị đâm một nhát rồi mới được phép chống trả.
Vấn đề khó nằm ở hai chữ "cần thiết". Cần thiết đến mức nào? Đánh giá sự cần thiết phải đặt người phòng vệ trở lại đúng hoàn cảnh họ đã đối diện. Một người lạ đột nhập lúc 2 giờ sáng khác với ban ngày. Người đó có dao khác với người không có hung khí. Trong nhà có trẻ nhỏ, người già khác với một nơi không có người. Khoảng cách giữa hai bên, thái độ của kẻ xâm nhập và khả năng một cuộc tấn công xảy ra ngay lập tức đều phải được xem xét.
Không thể yêu cầu người chủ nhà ở thời điểm sinh tử phải tính toán chính xác nên đánh vào đâu, chống trả mấy lần và phải chờ hung khí cách mình bao nhiêu centimet mới được hành động.
Thực tiễn từng có nhiều vụ án khiến dư luận tranh luận về ranh giới này như vụ Nguyễn Thúy Hằng ở Long An, vụ Lê Minh Phương tại Hà Nội hay vụ Nguyễn Ngọc Ánh tại Tây Ninh.
Có cần một "Castle Doctrine" cho Việt Nam?
Đó là lý do tôi cho rằng câu chuyện sau vụ Đồng Nai không nên chỉ hỏi pháp luật Việt Nam có cần một Castle Doctrine hay không.
Có lẽ điều cần thiết hơn là làm rõ cách áp dụng quyền phòng vệ trong những tình huống đặc biệt nguy hiểm tại nơi cư trú.
Khi một người dùng vũ lực phá cửa hoặc bằng thủ đoạn nguy hiểm đột nhập trái phép vào nhà giữa đêm, lại mang theo hung khí hoặc có những biểu hiện khách quan cho thấy nguy cơ đối với tính mạng, sức khỏe đang hiện hữu, đây phải là yếu tố rất quan trọng để đánh giá hành vi chống trả mạnh của chủ nhà là cần thiết.
Tất nhiên, quyền phòng vệ không phải quyền trả thù.
Kẻ đột nhập đã bị khống chế thì không được tiếp tục tấn công. Người đó đã bỏ chạy, nguy hiểm đã chấm dứt thì việc truy đuổi để tấn công không còn là phòng vệ.
Nhưng ở chiều ngược lại, pháp luật cũng không nên đặt một người vào tình thế phải chờ nhát dao đầu tiên mới được chứng minh rằng mình có quyền bảo vệ bản thân và gia đình.
Việt Nam hiện cũng chưa xây dựng một chế định riêng về phòng vệ tại nơi cư trú theo cách một số hệ thống pháp luật nước ngoài đã làm. Điều kiện xã hội, quản lý vũ khí và truyền thống pháp luật từng quốc gia rất khác nhau.
Chúng ta càng không nên tạo ra một tâm lý nguy hiểm rằng cứ người lạ vào nhà thì chủ nhà có quyền sát thương. Nhưng có thể nghiên cứu một nguyên tắc pháp lý rõ hơn về phòng vệ tại nơi cư trú.
Nói cách khác, quy định về phòng vệ chính đáng của luật pháp Việt Nam vẫn còn khá rộng, chưa cụ thể hóa trong những không gian nhất định gắn liền với sự an toàn của mỗi người, đó có thể là nhà ở, phòng làm việc, xe riêng...
Mỗi công dân cần được biết một cách rõ ràng, trong những trường hợp nhất định, họ có quyền làm gì để bảo vệ tính mạng, sức khỏe của chính mình cũng như của người thân.