Trẻ em trong vòng xoáy video ngắn - Bài cuối: Ai chịu trách nhiệm khi trẻ bị cuốn vào vòng xoáy video ngắn?
Khi nền tảng công nghệ có thể biết, dự đoán và tác động đến nội dung các video ngắn trẻ tiếp tục xem, trách nhiệm bảo vệ trẻ trên môi trường số cũng cần được nhìn rộng hơn: từ gia đình, nhà trường đến nền tảng và cơ quan quản lý.
LTS: "Trẻ em trong vòng xoáy video ngắn" - Chỉ một cú lướt, cả buổi tối của một đứa trẻ có thể biến mất. Nhưng điều đáng lo hơn là: Vì sao trẻ càng xem càng khó dừng? Những video dài vài chục giây đang âm thầm tác động thế nào đến sự chú ý, cảm xúc, giấc ngủ và cách trẻ nhìn thế giới? Và khi thuật toán ngày càng hiểu trẻ, làm thế nào để bảo vệ các em an toàn hiệu quả?
LTS: "Trẻ em trong vòng xoáy video ngắn" - Chỉ một cú lướt, cả buổi tối của một đứa trẻ có thể biến mất. Nhưng điều đáng lo hơn là: Vì sao trẻ càng xem càng khó dừng? Những video dài vài chục giây đang âm thầm tác động thế nào đến sự chú ý, cảm xúc, giấc ngủ và cách trẻ nhìn thế giới? Và khi thuật toán ngày càng hiểu trẻ, làm thế nào để bảo vệ các em an toàn hiệu quả?
Đừng biến cha mẹ thành "người gác cổng" duy nhất
Quy định hạn chế học sinh sử dụng điện thoại thông minh trong trường học từng bị không ít người xem là một mệnh lệnh hành chính cứng nhắc. Tuy nhiên, tại Trường THCS Cát Linh (Hà Nội), đây được nhìn nhận như một cách tạo khoảng thời gian để học sinh trở lại với việc học, vận động và giao tiếp trực tiếp.
Thầy Lê Hoài Quân, Hiệu trưởng nhà trường, chia sẻ, hạn chế điện thoại không có nghĩa nhà trường quay lưng với công nghệ. Học sinh vẫn được giáo dục về "sức khỏe số" thông qua các giờ Tin học, Giáo dục công dân và sinh hoạt chuyên đề; được hướng dẫn nhận diện thông tin độc hại, hiểu rủi ro trên mạng và quan trọng hơn là biết quản lý thời gian sử dụng thiết bị.
Nhà trường cũng phối hợp với phụ huynh để giải quyết nhu cầu liên lạc của học sinh. Các em có thể sử dụng điện thoại cố định tại phòng bảo vệ hoặc thiết bị chỉ có chức năng nghe, gọi cơ bản theo quy định. Khi phát hiện học sinh có biểu hiện lệ thuộc điện thoại như xao nhãng học tập, cáu gắt, thu mình, giáo viên chủ nhiệm tìm hiểu nguyên nhân thay vì chỉ áp dụng hình thức phạt. Các hoạt động thể thao, văn nghệ, sinh hoạt tập thể cũng được tăng cường để tạo cho học sinh những kết nối ngoài màn hình.
Tuy nhiên, nhà trường chỉ có thể tác động trong một phần thời gian của trẻ. Sau giờ học, chiếc điện thoại trở về tay các em và trách nhiệm thường được đặt lên vai cha mẹ.

Thầy Lê Hoài Quân, Hiệu trưởng THCS Cát Linh (Hà Nội).
Theo ThS.NCS. Dương Thị Thu Hà, Viện trưởng Viện Tâm lý Đời sống (LPI), khi trẻ thường xuyên tìm đến video ngắn, cha mẹ cần tìm hiểu nhu cầu phía sau hành vi ấy. Có trẻ xem vì buồn chán, muốn giải trí; có trẻ dùng video để né tránh áp lực học tập, thất vọng, lo âu hoặc những xung đột trong gia đình. Nếu chỉ nhìn thấy "con dùng điện thoại quá nhiều" mà không tìm hiểu "vì sao con cần điện thoại đến vậy", người lớn rất dễ biến việc sử dụng thiết bị thành cuộc giằng co: con giấu điện thoại, cha mẹ kiểm tra; con tìm cách xem lén, cha mẹ tăng mức kiểm soát.
Giới hạn thời gian sử dụng thiết bị vẫn cần thiết, đặc biệt với trẻ nhỏ. Tuy nhiên, theo chuyên gia, nếu trẻ chỉ dừng lại vì "có người kiểm soát", khả năng tự quản lý chưa thực sự được hình thành. "Mục tiêu cuối cùng của giáo dục không phải kiểm soát trẻ, mà giúp trẻ dần hình thành khả năng tự kiểm soát chính mình", ThS.NCS. Dương Thị Thu Hà nhấn mạnh.
Cha mẹ có thể cùng con thống nhất những quy tắc đơn giản như không dùng điện thoại trong bữa ăn, không mang điện thoại vào phòng ngủ sau một giờ nhất định; trước khi mở máy, tự hỏi mình muốn xem gì, đang buồn, chán hay căng thẳng; đặt thời gian xem và chủ động dừng lại khi hết thời lượng. Quan trọng không kém là tạo những lựa chọn thay thế như chơi thể thao, nghe nhạc, đọc sách, vẽ, đi bộ hoặc trò chuyện cùng gia đình. Cha mẹ cũng cần làm gương, bởi rất khó yêu cầu con không dùng điện thoại trong bữa ăn nếu người lớn vẫn vừa ăn vừa đọc tin nhắn.
Nhưng việc bảo vệ trẻ không thể chỉ đặt lên vai gia đình, bởi chiếc điện thoại không tự quyết định video tiếp theo.

ThS.NCS. Dương Thị Thu Hà, Viện trưởng Viện Tâm lý Đời sống (LPI).
Khi thuật toán cũng tham gia "giữ mắt" trẻ
Video ngắn khác nhiều hình thức giải trí truyền thống ở khả năng cá nhân hóa. Dựa trên những tín hiệu như thời gian xem, lượt tương tác hay chủ đề quan tâm, hệ thống có thể liên tục đề xuất nội dung mới. Vì vậy, bên cạnh câu hỏi "tại sao con không tự tắt điện thoại?", cần đặt thêm câu hỏi: "Điều gì đang khiến trẻ muốn xem tiếp?".
Một nền tảng không thể chịu trách nhiệm cho mọi hành vi của người dùng. Tuy nhiên, khi có khả năng kiểm soát cách nội dung được lựa chọn, đề xuất và cách trải nghiệm được thiết kế, trách nhiệm bảo vệ người dùng trẻ cũng cần được đặt tương xứng với mức độ kiểm soát đó.
Trao đổi về vấn đề này, ông Nguyễn Lâm Thanh, Giám đốc TikTok Việt Nam, cho biết, TikTok đã triển khai nhiều công cụ nhằm hỗ trợ sức khỏe số và bảo vệ người dùng trẻ tuổi. Theo TikTok, tài khoản thanh thiếu niên được tích hợp hơn 50 tính năng và cài đặt về an toàn, quyền riêng tư và bảo mật. Người dưới 13 tuổi không được phép sử dụng nền tảng. TikTok cho biết, trung bình mỗi tháng nền tảng này đình chỉ trên toàn cầu khoảng 6 triệu tài khoản bị nghi ngờ thuộc người dưới 13 tuổi.
Một số tính năng được giới hạn theo độ tuổi, trong đó tin nhắn trực tiếp dành cho người từ 16 tuổi; LIVE, TikTok Shop và Quà tặng dành cho người từ 18 tuổi. Với tài khoản thanh thiếu niên, TikTok cho biết, bảng tin "Dành cho bạn" được áp dụng các biện pháp hạn chế đối với nội dung có thể không phù hợp và hạn chế việc đề xuất lặp đi lặp lại những video có chủ đề tiêu cực tiềm ẩn.

Ông Nguyễn Lâm Thanh, Giám đốc TikTok Việt Nam. Ảnh: An Khương
Nền tảng cũng cung cấp tính năng Gia đình Thông minh (Family Pairing), cho phép phụ huynh quản lý thời gian sử dụng, lọc từ khóa, hạn chế tìm kiếm, chặn tài khoản, thiết lập chế độ hạn chế và đặt khoảng thời gian không sử dụng TikTok. Tài khoản thanh thiếu niên được cài đặt mặc định giới hạn thời gian sử dụng 60 phút mỗi ngày, cùng các tính năng nhắc nghỉ ngơi và tắt thông báo vào ban đêm.
Nền tảng này cũng đã triển khai các biện pháp chống bóc lột và xâm hại trẻ em, trong đó sử dụng công nghệ nhận diện, đối chiếu mã băm (hash-matching) để phát hiện tài liệu xâm hại tình dục trẻ em (CSAM), gỡ bỏ nội dung vi phạm và khóa vĩnh viễn các tài khoản cố tình chia sẻ loại nội dung này.
Những công cụ trên cho thấy, nền tảng đã có những cơ chế nhất định để hạn chế rủi ro đối với người dùng trẻ. Tuy nhiên, câu hỏi lớn hơn vẫn là hiệu quả thực tế của các biện pháp này đến đâu và trách nhiệm của nền tảng nên được xác định thế nào khi chính hệ thống đề xuất có khả năng tác động đến hành vi sử dụng của trẻ.
Dạy trẻ thoát khỏi vòng lặp thay vì "cấm sạch"
Không thể yêu cầu nhà trường kiểm soát chiếc điện thoại mà học sinh sử dụng ở nhà. Nhưng nhà trường có một vai trò mà nền tảng công nghệ không thể thay thế: trang bị năng lực cho trẻ. Đó không chỉ là dạy "cẩn thận khi lên mạng", mà còn giúp trẻ hiểu vì sao mình muốn xem tiếp, biết ở mức cơ bản cách nội dung được đề xuất, nhận diện thông tin sai lệch, nội dung thao túng cảm xúc và những hành vi lôi kéo.
Mô hình tại Trường THCS Cát Linh cho thấy một hướng tiếp cận: hạn chế điện thoại ở trường nhưng không tách trẻ khỏi công nghệ; thay vào đó là giáo dục sức khỏe số, tăng hoạt động thể chất và xây dựng môi trường giao tiếp trực tiếp. Đây cũng là cách tránh một cực đoan khác là "cấm sạch" công nghệ. Vấn đề không phải trẻ có sử dụng công nghệ hay không, mà là trẻ có đủ năng lực để làm chủ nó hay không.
Ngày 16/5/2026, Hiệp hội An ninh mạng Quốc gia, TikTok và Viện Nghiên cứu Quản lý Phát triển Bền vững (MSD) tổ chức tọa đàm "Thiếu niên nói 2026: Đồng kiến tạo giải pháp an toàn số và sức khỏe số". Tại sự kiện, các bên nhấn mạnh sự cần thiết của việc phối hợp giữa gia đình, nhà trường, nền tảng công nghệ, tổ chức xã hội và cơ quan quản lý trong bảo vệ trẻ trên môi trường mạng.

Đại tá Hà Văn Bắc, Phó Cục trưởng Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao phát biểu.
Phát biểu tại tọa đàm, Đại tá Hà Văn Bắc, Phó Cục trưởng Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao, Bộ Công An, cho rằng, bảo vệ trẻ em trên không gian mạng cần được triển khai theo hướng tổng thể, với sự tham gia của toàn xã hội. Gia đình cần đồng hành, lắng nghe; nhà trường tăng cường giáo dục kỹ năng số; nền tảng công nghệ nâng cao trách nhiệm bảo vệ người dùng trẻ; các tổ chức xã hội, chuyên gia và báo chí cùng lan tỏa kiến thức, kỹ năng và văn hóa ứng xử an toàn trên mạng. Theo ông, chính trẻ em cũng cần được trao quyền để chia sẻ trải nghiệm, phản ánh những vấn đề mình gặp phải và tham gia xây dựng giải pháp.
Đáng chú ý, theo MSD, khảo sát "Tiếng nói trẻ em Việt Nam 2026" đang được triển khai với hơn 2.500 trẻ từ 12-15 tuổi, cho thấy, khoảng 9/10 em cho biết đã được học hoặc tiếp cận nội dung về an toàn khi sử dụng mạng. Tuy nhiên, cũng với tỷ lệ tương tự, 9/10 em cho biết từng trực tiếp hoặc gián tiếp đối mặt với các rủi ro trên môi trường số. Như vậy, biết về an toàn mạng chưa đồng nghĩa với có khả năng tự bảo vệ mình.
Bảo vệ trẻ trên môi trường số vì thế không nên được đặt thành cuộc lựa chọn giữa "cha mẹ phải kiểm soát con" và "cấm trẻ sử dụng công nghệ". Cần một cách tiếp cận nhiều lớp: gia đình đồng hành, nhà trường trang bị kỹ năng, nền tảng chịu trách nhiệm tương xứng với khả năng kiểm soát thiết kế và đề xuất nội dung, còn cơ quan quản lý xây dựng và giám sát các chuẩn bảo vệ trẻ.
Sau cùng, mục tiêu không phải khiến trẻ không bao giờ nhìn vào màn hình, mà hướng đến trẻ có thể sử dụng công nghệ mà không bị công nghệ dẫn dắt hoàn toàn. Khi đó, câu hỏi "Ai đang giữ mắt con trẻ?" mới thực sự có câu trả lời đầy đủ.
Nhiều lớp bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng
Theo luật sư Hoàng Văn Hà (Công ty Luật TNHH ARC Hà Nội), Điều 29 Luật An ninh mạng 2018 quy định về bảo vệ trẻ em trên không gian mạng. Theo đó, trẻ em có quyền được bảo vệ khi tham gia môi trường mạng; các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trên mạng có trách nhiệm kiểm soát nội dung, ngăn chặn, xóa bỏ thông tin gây nguy hại cho trẻ em và phối hợp với cơ quan chức năng khi phát hiện nguy cơ xâm hại. Cơ quan, tổ chức, cha mẹ, giáo viên và người chăm sóc trẻ cũng có trách nhiệm bảo đảm quyền, bảo vệ trẻ em trên không gian mạng.
Bên cạnh đó, Điều 54 Luật Trẻ em 2016 quy định trách nhiệm bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng. Các cơ quan, tổ chức liên quan phải tuyên truyền, giáo dục và bảo vệ trẻ; cha mẹ, giáo viên, người chăm sóc có trách nhiệm trang bị kiến thức, hướng dẫn kỹ năng để trẻ biết tự bảo vệ mình khi tham gia môi trường mạng.
Mới đây, Thủ tướng phê duyệt Chương trình "Bảo vệ và hỗ trợ trẻ em phát triển trên môi trường mạng giai đoạn 2026-2030", đặt mục tiêu tăng cường an ninh mạng, kỹ năng số và hỗ trợ, can thiệp đối với trẻ em bị xâm hại trên môi trường mạng.
Theo luật sư Hoàng Văn Hà, dự thảo sửa đổi Nghị định 147/2024/NĐ-CP cũng đề xuất thêm các biện pháp bảo vệ trẻ em, trong đó trẻ dưới 16 tuổi không tự đăng ký tài khoản mạng xã hội mà việc đăng ký, quản lý do cha mẹ hoặc người giám hộ thực hiện. Các nền tảng được yêu cầu áp dụng giải pháp xác định độ tuổi, phân phối nội dung phù hợp và chủ động ngăn chặn nội dung độc hại.

Luật sư Hoàng Văn Hà - Công ty Luật TNHH ARC Hà Nội.