Xem thêm thông tin của Báo PNVN trên
Phụ nữ Việt Nam
MỚI NHẤT ĐỘC QUYỀN MULTIMEDIA CHUYÊN ĐỀ

Trên 407 nghìn tỷ đồng tín dụng ưu đãi: Cánh cửa vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ rộng hơn?

Thùy Linh
Trên 407 nghìn tỷ đồng tín dụng ưu đãi: Cánh cửa vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ rộng hơn?

Ảnh minh họa

19 ngân hàng đã công bố các chương trình tín dụng ưu đãi với tổng quy mô trên 407 nghìn tỷ đồng, lãi suất thấp hơn 1-2%/năm so với mức cho vay bình quân cùng kỳ hạn. Tuy nhiên, để dòng vốn thực sự đến được doanh nghiệp nhỏ và vừa, bài toán không chỉ nằm ở lãi suất mà còn ở cách ngân hàng đánh giá doanh nghiệp, dữ liệu dòng tiền và tài sản bảo đảm.

Thêm nguồn vốn, giảm chi phí vay

Sau hơn một tháng triển khai chương trình tín dụng hướng đến doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) cùng các doanh nghiệp, cá nhân hoạt động trong những lĩnh vực là động lực tăng trưởng, quy mô nguồn vốn ưu đãi đã tăng mạnh. Từ 4 ngân hàng thương mại Nhà nước đăng ký 220 nghìn tỷ đồng ban đầu, đến nay đã có 19 ngân hàng công bố chương trình, sản phẩm ưu đãi với tổng quy mô trên 407 nghìn tỷ đồng.

Đáng chú ý, các khoản vay trong chương trình có mức lãi suất ưu đãi thấp hơn từ 1-2%/năm so với mức lãi suất cho vay bình quân cùng kỳ hạn của các ngân hàng. Với DNNVV, đây là yếu tố có thể tác động trực tiếp đến chi phí vốn, nhất là trong bối cảnh nhiều doanh nghiệp vẫn phải cân đối dòng tiền cho nguyên liệu, nhân công, đầu tư máy móc và mở rộng sản xuất.

Quy mô nguồn vốn cũng cho thấy tín dụng ngân hàng đang được định hướng mạnh hơn vào khu vực doanh nghiệp có nhu cầu vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh, thay vì chỉ tập trung vào những khách hàng có sẵn năng lực tài chính và tài sản bảo đảm.

407 nghìn tỷ đồng tín dụng ưu đãi: Cánh cửa vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ rộng hơn? - Ảnh 1.

Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước, đến ngày 28/8/2026, dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế đạt gần 20,5 triệu tỷ đồng, tăng 10,24% so với cuối năm 2025. Riêng đối với DNNVV, hiện có trên 100 tổ chức tín dụng phát sinh dư nợ, với dư nợ tín dụng đạt trên 4,1 triệu tỷ đồng, tăng 12,4% so với cuối năm 2025. Tốc độ này cao hơn mức tăng trưởng tín dụng chung của nền kinh tế và dư nợ DNNVV hiện chiếm khoảng 20% tổng dư nợ của nền kinh tế.

Những con số trên cho thấy tín dụng dành cho DNNVV đang tăng nhanh hơn tốc độ chung. Tuy nhiên, quy mô tín dụng lớn hơn chưa đồng nghĩa mọi doanh nghiệp có nhu cầu đều có thể tiếp cận vốn. Khoảng cách giữa nguồn vốn ngân hàng và khả năng vay vốn của từng doanh nghiệp vẫn phụ thuộc đáng kể vào hồ sơ tài chính, phương án kinh doanh, dòng tiền và khả năng đáp ứng các yêu cầu quản trị rủi ro.

Đây cũng là lý do hệ thống ngân hàng đang thay đổi phương thức cung ứng tín dụng. Các tổ chức tín dụng đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng dữ liệu, đơn giản hóa thủ tục và phát triển các sản phẩm tài chính phù hợp hơn với nhu cầu của doanh nghiệp.

Không chỉ nhìn vào tài sản bảo đảm

Một trong những thay đổi đáng chú ý được đặt ra là cách ngân hàng đánh giá khả năng trả nợ của DNNVV.

Theo Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn, khó khăn trong tiếp cận tín dụng của DNNVV không chỉ xuất phát từ điều kiện tín dụng của ngân hàng mà còn chịu tác động bởi môi trường kinh tế trong nước và thế giới, yêu cầu quản trị rủi ro của ngân hàng cũng như những hạn chế nội tại của doanh nghiệp. Sức chống chịu của DNNVV vẫn còn yếu, trong khi tình trạng doanh nghiệp dừng hoạt động, giải thể qua các năm vẫn còn lớn.

Trong bối cảnh đó, Thống đốc đề nghị các tổ chức tín dụng tiếp tục cải tiến quy trình, thủ tục cho vay, rút ngắn thời gian xét duyệt trên cơ sở tuân thủ pháp luật; đồng thời nghiên cứu phương thức đánh giá tín dụng dựa trên phương án sản xuất, kinh doanh, dòng tiền, lịch sử tín dụng, năng lực quản trị và dữ liệu của doanh nghiệp.

Đáng chú ý, các ngân hàng được đề nghị hoàn thiện cơ sở dữ liệu khách hàng DNNVV, tăng cường khai thác, kết nối và chia sẻ dữ liệu theo quy định để phục vụ đánh giá, thẩm định và giám sát khoản vay. Qua đó, từng bước giảm sự phụ thuộc vào tài sản bảo đảm, tăng cường đánh giá dựa trên dòng tiền và chuỗi giá trị.

407 nghìn tỷ đồng tín dụng ưu đãi: Cánh cửa vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ rộng hơn? - Ảnh 2.

Nguồn vốn tín dụng ưu đãi được kỳ vọng hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa bổ sung vốn, duy trì và mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh

Nếu được triển khai hiệu quả, cách tiếp cận này có thể mở thêm một hướng tiếp cận vốn cho những doanh nghiệp có hoạt động sản xuất, kinh doanh thực chất nhưng chưa có nhiều tài sản để thế chấp. Thay vì chỉ nhìn vào giá trị tài sản bảo đảm, ngân hàng có thêm cơ sở để đánh giá khả năng tạo doanh thu, luân chuyển tiền và trả nợ của doanh nghiệp.

Đây cũng là điểm có ý nghĩa đối với DNNVV, bởi hạn chế về quy mô tài sản và năng lực tài chính thường khiến nhóm doanh nghiệp này gặp khó khi đáp ứng các yêu cầu tín dụng truyền thống.

Cùng với đó, Ngân hàng Nhà nước chủ động nghiên cứu xây dựng đề án thí điểm phân tích dữ liệu dòng tiền phục vụ hoạt động thông tin tín dụng nhằm nâng cao khả năng tiếp cận vốn đối với DNNVV. Nếu được triển khai, dữ liệu dòng tiền có thể trở thành một trong những cơ sở quan trọng hơn trong quá trình đánh giá sức khỏe tài chính và khả năng trả nợ của doanh nghiệp.

407 nghìn tỷ đồng và bài toán hấp thụ vốn

Nguồn vốn ưu đãi được mở rộng là điều kiện cần, nhưng để 407 nghìn tỷ đồng thực sự chuyển thành năng lực sản xuất, kinh doanh, khả năng hấp thụ vốn của doanh nghiệp vẫn là yếu tố quyết định.

Thống đốc Phạm Đức Ấn nhấn mạnh, ngành Ngân hàng luôn sẵn sàng nguồn tín dụng để đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, chính sách hỗ trợ tiếp cận tín dụng cần được đặt trong tổng thể các chính sách khác như phát triển các thị trường tài chính, nâng cao năng lực doanh nghiệp, kết nối thị trường và tháo gỡ khó khăn trong lĩnh vực thuế, đất đai, thủ tục đầu tư, xây dựng.

Điều này cho thấy bài toán tín dụng không chỉ nằm ở phía ngân hàng. Với doanh nghiệp, việc minh bạch hóa thông tin tài chính, xây dựng phương án sản xuất kinh doanh khả thi, quản lý tốt dòng tiền và cung cấp đầy đủ, trung thực thông tin cho tổ chức tín dụng sẽ ngày càng quan trọng.

Về phía ngân hàng, ngoài tín dụng truyền thống, các tổ chức tín dụng được yêu cầu nghiên cứu, phát triển và đa dạng hóa sản phẩm phù hợp với đặc thù DNNVV và từng ngành, lĩnh vực. Các hình thức như bảo lãnh, bao thanh toán, cho thuê tài chính, tài trợ chuỗi cung ứng và các sản phẩm tài chính số có thể bổ sung thêm lựa chọn cho doanh nghiệp bên cạnh khoản vay thông thường.

407 nghìn tỷ đồng tín dụng ưu đãi: Cánh cửa vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ rộng hơn? - Ảnh 3.

Các ngân hàng cũng được yêu cầu công khai rõ đối tượng, điều kiện, quy trình của các chương trình tín dụng để doanh nghiệp dễ tìm hiểu và tiếp cận, bảo đảm chính sách hỗ trợ đi vào thực chất. Đồng thời, tiếp tục tiết giảm chi phí hoạt động, tăng năng suất, đẩy mạnh số hóa để ổn định và phấn đấu giảm lãi suất cho vay; tăng cường hợp tác với các tổ chức quốc tế để huy động thêm nguồn vốn ưu đãi với lãi suất thấp cho DNNVV.

Như vậy, tác động của gói tín dụng trên 407 nghìn tỷ đồng không chỉ nằm ở con số quy mô vốn. Nếu các chương trình được triển khai đúng đối tượng, mức lãi suất ưu đãi có thể giúp doanh nghiệp giảm chi phí vay; trong khi việc thay đổi cách đánh giá tín dụng, tăng sử dụng dữ liệu dòng tiền và đa dạng hóa sản phẩm có thể góp phần tháo gỡ một trong những điểm nghẽn lâu nay trong quan hệ giữa DNNVV và ngân hàng.

Nhưng để nguồn vốn thực sự phát huy hiệu quả, doanh nghiệp cũng phải nâng cao năng lực quản trị và khả năng hấp thụ vốn. Như Thống đốc Phạm Đức Ấn lưu ý, đây không chỉ là điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận vốn ngân hàng mà còn là nền tảng để nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững.

Khi nguồn vốn ngân hàng đang được mở rộng cả về quy mô và cách thức tiếp cận, câu hỏi quan trọng tiếp theo không chỉ là doanh nghiệp vay được bao nhiêu, mà là nguồn vốn đó có được chuyển hóa thành đơn hàng, đầu tư, sản xuất và dòng tiền trả nợ như thế nào. Đây mới là yếu tố quyết định hiệu quả thực tế của chương trình tín dụng ưu đãi.

Ý kiến của bạn
Bình luận