Truyện ngắn: Phía sau mưa
Hai mươi năm qua, mẹ một mình nuôi Quỳnh giữa bao điều tiếng. Tủi cực đến đâu, bà cũng gánh hết. Nay biết bệnh nặng, sợ bỏ lại con gái côi cút không nơi nương tựa, bà mới nói ra sự thật, mong Quỳnh tìm được những người máu mủ ruột rà.
1.
Phía bên này sông là mênh mông bờ bãi, chỉ có một cái cồn cao nổi lên giữa dòng. Năm xưa, ông ngoại cõng mẹ của Quỳnh đến mảnh đất này, dựng nhà trên cái cồn. Ông chặt những cây tre to, bắc một chiếc cầu tạm qua sông để vào làng bán mớ tôm, mớ cá kiếm được dưới dòng nước. Khi ông mất, mẹ Quỳnh ở lại một mình trong ngôi nhà xây bằng những viên gạch cũ, vài bức tường đã rêu phong, loang lổ dấu vết của thời gian.
Không biết tại đất, tại nước hay tại người mà con gái sinh ra ở làng Vực thường có màu da đen đúa, mái tóc hoe vàng, chẻ tua tủa như chổi rơm. Quỳnh thì khác. Càng lớn, cô càng đẹp, da trắng, đôi mắt đen lúng liếng, trong vắt như mặt nước sông lặng lúc bình minh. Dáng người dong dỏng cao, làn da trắng và tóc đen dài ấy, Quỳnh thừa hưởng từ mẹ.
Hai mươi năm trước, mẹ Quỳnh đẹp nhất làng. Căn nhà lụp xụp ven sông cứ chiều đến là rậm rịch trai làng đến chơi. Nhiều người phải lòng mẹ Quỳnh đến mất ăn mất ngủ, nhưng không ai dám cầu hôn. Từ thuở nhỏ, mẹ Quỳnh đã mắc một căn bệnh lạ: Một bàn chân phù lên, to gấp đôi bàn chân còn lại, sờ vào cứng và thô ráp. Không ai biết đó là bệnh gì, không đau, không ngứa, nhưng cái bàn chân to như chân voi ấy khiến bà suốt một thời trẻ đi đứng liểng xiểng như người tật nguyền. Không người đàn ông nào dám lấy bà, họ sợ những đứa trẻ bà sinh ra sẽ mang dị tật như mẹ.
Quỳnh lớn lên giữa những lời xì xào của dân làng, như những nhát dao cứa vào da thịt, để lại sẹo. Vết thương này chưa kịp lành thì vết khác lại rỉ máu, mà lời nào cũng đau. Người ta bảo bố Quỳnh không phải người vùng này. Năm xưa, tàu chở gạo của ông neo lại bên kia sông, cắm sào cả tháng để bán buôn. Hết gạo, ông cũng rời đi, không bao giờ quay lại.
Mẹ sinh Quỳnh một mình trong đêm mưa to gió lớn. Trước đó mấy ngày, mưa dầm dề, nước sông dâng cao, cuốn trôi cả chiếc cầu tre tạm bợ nối hai bờ, nên không ai hay biết bà đã vật lộn ra sao. Sáng hôm sau, từ phía bên kia sông vọng sang tiếng trẻ con khóc. Người làng kéo đến tò mò xem đứa bé sinh ra có bàn chân voi như mẹ nó không. Nhưng bàn chân Quỳnh nhỏ xinh, những ngón chân múp máp, hồng hào. Dẫu mưu sinh cực nhọc, cô vẫn lớn lên khỏe mạnh, học hành sáng dạ.
2.
Sau một trận ốm thập tử nhất sinh, tóc mẹ Quỳnh bạc quá nửa đầu. Ngày có thể xuống giường đi lại được, bà dúi vào tay Quỳnh một mảnh giấy đã úa màu, ghi mấy dòng địa chỉ nguệch ngoạc, rồi bảo cô đi tìm bố.
Mẹ dõi cặp mắt u buồn về phía sông, từng mảng ký ức cũ ùa về rõ mồn một. Ngày ấy, sau một tháng chiếc tàu buôn cắm sào trên khúc sông trước nhà đã bán hết gạo, người đàn ông cao to, dáng vẻ phong trần cũng chuẩn bị rời đi. Bà chỉ biết đứng lặng trong góc nhà mà tủi phận. Con gái làng Vực, tốt xấu gì đến lứa cũng có người dạm hỏi. Nhiều gã trai nói yêu bà, nhưng không ai dám cưới vì không vượt qua được điều tiếng dân làng. Tuổi ba mươi đến nhanh như bóng thuyền tan giữa mênh mông sóng nước. Chỉ vì cái chân tật nguyền, bà bị ruồng bỏ, phải dựng nhà tách biệt bên kia sông.
Đêm cuối, người đàn ông phong trần ấy đã ngủ lại trong căn nhà lụp xụp ven sông. Khi trời chưa kịp sáng, ông rời đi, chỉ để lại mảnh giấy ghi vài dòng địa chỉ mơ hồ về một thôn làng xa xôi ngoài Bắc.
Cái bụng dần lớn lên, tấm áo thùng thình không còn che giấu được nữa. Bà cảm nhận rõ rệt một sinh linh đang lớn lên từng ngày trong bụng mình. Bà hạnh phúc mường tượng một đám cưới giản dị, rồi theo thuyền về làm dâu xứ người, bởi vẫn đinh ninh người đàn ông ấy là trai tân, chưa có vợ. Khi ấy không có điện thoại, cũng không biết nhờ ai tìm giúp. Bà bán hết mấy bì lúa trong nhà, mua một tấm vé tàu ra Bắc tìm bố cho con.
Lần theo địa chỉ, hỏi thăm khắp nơi, bà mới biết ông đã có vợ và 2 con trai. Ông thường xuyên đi buôn xa, chỉ còn người vợ với bọn trẻ ở nhà. Bà đi đi lại lại trước căn nhà ngói ba gian rộng rãi, nghe tiếng con trẻ đùa nhau trong sân mà lòng quặn thắt. Một cảm giác giằng xé, đau đớn trào dâng. Bà quay đầu chạy vụt ra cổng làng, lật đật trở lại ga tàu, về quê.
Giọng mẹ trầm buồn như dòng sông lặng sóng:
- Mẹ giấu con ngót nghét 20 năm. Nay gần đất xa trời, mẹ muốn con biết. Đi tìm hay không là tùy con.
- Mẹ đã đến tận nơi nhưng không gặp bố?
- Không con ạ. Mẹ sợ nói ra, gia đình họ tan đàn sẻ nghé.
- Ra là bố con đã lừa dối mẹ?
- Không phải đâu. Từ ngày thuyền ông ấy neo trên sông, ông ấy hiền lành, tử tế, vẫn hay cân dư, đong thừa cho người làng vì khi ấy mới bão lụt xong, gạo thóc rất khan hiếm.
Hai mươi năm qua, mẹ một mình nuôi Quỳnh giữa bao điều tiếng. Tủi cực đến đâu, bà cũng gánh hết. Nay biết bệnh nặng, sợ bỏ lại con gái côi cút không nơi nương tựa, bà mới nói ra sự thật, mong Quỳnh tìm được những người máu mủ ruột rà.
Quỳnh mua vội tấm vé tàu ra Bắc. Nhưng cô đến muộn. Bố cô đã mất được mấy năm, chỉ còn người vợ ở quê quanh năm lo hương khói. Gia đình không hề biết năm xưa ông từng vào tận trong này buôn bán và có một người con gái. Bà vợ gọi 2 con trai về, để anh em nhận nhau.
3.
Người làng Vực không biết cuộc gặp gỡ ấy diễn ra ra sao. Ngày chiếc ô tô 7 chỗ sang trọng đỗ ngay bên bờ sông, người lớn trẻ con kéo đến xem đông nghịt. Họ ngạc nhiên khi thấy 2 người đàn ông cao lớn, ăn mặc chỉnh tề, tay xách nách mang quà bánh, bước vào ngôi nhà hai gian lụp xụp của mẹ con Quỳnh.
Người anh cả đặt kết quả xét nghiệm ADN lên bàn, cầm tay mẹ Quỳnh, nói như để cả làng nghe thấy:
- Em Quỳnh đúng là con của bố Đàn, là em gái con.
Hai người đàn ông nhìn khắp căn nhà có mái ngói vỡ, nắng rọi qua từng khoảng le lói trên những bức tường bong tróc. Trong nhà chẳng có gì đáng giá ngoài chiếc giường cũ và bộ bàn ghế ọp ẹp. Bàn học của Quỳnh kê ở góc trái, mấy quyển sách xếp gọn, buộc kín trong bao ni lông. Hơn một năm nay, Quỳnh phải bảo lưu kết quả năm nhất đại học vì nhà không còn tiền lo sinh hoạt phí và thuốc thang cho mẹ.
Trước khi rời đi, người anh cả cầm chặt tay mẹ Quỳnh, dặn dò:
- Về bệnh tình của cô, anh em con xin đón cô lên Hà Nội để chữa trị. Và anh em con xin phép cô được sửa sang lại ngôi nhà cũ.
Như hiểu ánh mắt chối từ của bà, người anh thứ hai dịu dàng:
- Cô đừng ngại. Anh em con chỉ mong cô khỏe mạnh, sống lâu để còn nhìn thấy em gái chúng con được học hành, có công việc ổn định.
Bốn người nhìn nhau, rưng rưng.
4.
Mưa suốt một đêm, gần sáng mới tạnh hẳn. Gió thu vén dải mây xám vắt ngang chân trời phía đông, để bình minh kịp gọi nắng thức giấc. Hôm nay, anh cả và anh Hai sẽ đưa Quỳnh đến trường xin học lại, rồi đưa mẹ ra Hà Nội chữa bệnh. Hành lý của hai mẹ con đã được thu xếp từ đêm hôm trước.
Chưa bao giờ Quỳnh nghĩ cuộc sống lại đổi thay nhiều đến thế, kể từ khi cô tìm lại được những người anh ruột thịt. Thuở bé, mỗi lần mưa gió, cô chỉ biết co ro trong góc giường, nhìn mẹ hứng nước mưa từ mái nhà dột nát, gió giật tung cánh cửa sổ cũ kỹ, lạnh thấu xương. Cơn mưa đêm qua không còn khiến Quỳnh sợ hãi nữa, bởi ngôi nhà cũ đã được thay bằng một mái ấm vững chãi.
Sau cơn mưa, bầu trời quang đãng. Quỳnh thong thả bước ra sân, đi về phía sông. Cô ngồi trên chiếc cầu tre quen thuộc, thả hai bàn chân trắng nõn xuống dòng nước mát. Một cảm giác an tại trào dâng trong lòng, êm dịu và nhẹ nhõm.