Tư vấn, góp ý về dự thảo Khung kiến trúc Cơ sở Dữ liệu về Phụ nữ và Bình đẳng giới
Phó Chủ tịch Hội LHPN Việt Nam Nguyễn Thị Thu Hiền chủ trì hội thảo. Ảnh: Minh Trang
Ngày 28/9, Ban Thường vụ Trung ương Hội LHPN Việt Nam tổ chức Hội thảo tư vấn, góp ý về dự thảo Khung kiến trúc Cơ sở Dữ liệu về Phụ nữ và Bình đẳng giới.
Buổi làm việc do Phó Chủ tịch Hội LHPN Việt Nam Nguyễn Thị Thu Hiền chủ trì, với sự tham gia của lãnh đạo và cán bộ các bộ phận thuộc Ban Công tác Phụ nữ, TW Hội LHPN Việt Nam, cùng đơn vị tư vấn.

Quang cảnh hội thảo
Phát biểu tại hội thảo, bà Nguyễn Thị Thu Hiền - Phó Chủ tịch Hội LHPN Việt Nam - nhấn mạnh, cơ sở dữ liệu không chỉ có ý nghĩa về mặt lưu trữ thông tin mà cần tạo lập được nguồn dữ liệu tin cậy làm cơ sở bằng chứng phục vụ phân tích, đánh giá thực trạng, theo dõi biến động, đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ và hỗ trợ quá trình ra quyết định của các cấp Hội.
Việc có được nguồn dữ liệu đầy đủ, thống nhất, có chất lượng và được cập nhật kịp thời là cơ sở quan trọng để Hội thực hiện hiệu quả chức năng đại diện, chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của phụ nữ. Đồng thời nâng cao chất lượng công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, thống kê, giám sát, phản biện xã hội, tham mưu và đề xuất chính sách về phụ nữ và bình đẳng giới.
Xây dựng Cơ sở dữ liệu Phụ nữ và Bình đẳng giới thống nhất, tập trung, chuẩn hóa trong toàn hệ thống Hội LHPN Việt Nam, bảo đảm dữ liệu đầy đủ, chính xác, được quản trị theo nguyên tắc dùng chung - liên thông - an toàn - bảo mật, phục vụ hiệu quả công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Trung ương Hội và các cấp Hội. Bên cạnh đó là tạo nền tảng dữ liệu lõi để tích hợp, kết nối với Hệ sinh thái số phụ nữ và các hệ thống thông tin của Đảng, Nhà nước theo lộ trình chuyển đổi số quốc gia.

Đại diện đơn vị tư vấn
Mô hình kiến trúc dữ liệu đóng vai trò là "lớp lõi" trong khung kiến trúc tổng thể, thực hiện nhiệm vụ thu nhận, lưu trữ, xử lý và chia sẻ toàn bộ tài sản số của Trung ương Hội LHPN Việt Nam.
Lãnh đạo và cán bộ các bộ phận thuộc Ban Công tác Phụ nữ, TW Hội LHPN Việt Nam cùng đơn vị tư vấn đã thảo luận về khung kiến trúc cơ sở dữ liệu về phụ nữ và bình đẳng giới. Trong đó, 8 miền và 54 phân miền dữ liệu tập trung vào các vấn đề sau:
- Phụ nữ, hội viên và gia đình: Thông tin về phụ nữ, hội viên, gia đình và các nhóm đối tượng liên quan.
- Đời sống, quyền và an sinh xã hội: Các lĩnh vực đời sống của phụ nữ như y tế, sức khỏe, dinh dưỡng, làm mẹ an toàn, chăm sóc dài hạn, nhà ở, nước sạch, vệ sinh, an sinh xã hội và các dịch vụ xã hội cơ bản.
- Bình đẳng giới và thực hiện quyền: Bình đẳng giới trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, lao động, giáo dục và đào tạo, y tế, văn hóa - xã hội; lồng ghép, phòng ngừa và ứng phó bạo lực trên cơ sở giới; truyền thông, vận động xã hội và thay đổi định kiến giới.
- Kinh tế, việc làm và sinh kế: Việc làm, đào tạo nghề, phát triển kỹ năng, hỗ trợ khởi nghiệp, phát triển kinh tế hộ gia đình, hợp tác xã, tổ hợp tác, tiếp cận vốn, thị trường và các chương trình hỗ trợ sinh kế của phụ nữ.
- Trẻ em và gia đình: Thông tin về trẻ em, đặc biệt là trẻ em gái; quyền trẻ em; chăm sóc, bảo vệ trẻ em; phòng chống xâm hại, bạo lực, bóc lột trẻ em; xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc; nuôi dạy con và các dịch vụ, mô hình hỗ trợ gia đình.
- Tổ chức Hội và quản trị nội bộ: Hệ thống tổ chức Hội, cán bộ và nhân sự; năng lực tổ chức; kế hoạch và hoạt động nội bộ; kiểm tra, giám sát, tuân thủ; truyền thông; chuyển đổi số; hệ thống thông tin; quản trị và bảo vệ dữ liệu.
- Chương trình, dự án và hợp tác: Các chương trình, dự án, sáng kiến, mô hình, dịch vụ; quản lý tài trợ, nguồn lực và đối tác; hợp tác trong nước và quốc tế; theo dõi, đánh giá kết quả và tác động.
- Chính sách, thống kê, nghiên cứu và tri thức: Chính sách và pháp luật; tham mưu, giám sát, phản biện xã hội và kiến nghị chính sách; nghiên cứu, khảo sát; chỉ tiêu, chỉ số và metadata thống kê; thống kê, theo dõi - đánh giá, bằng chứng và tri thức.