4 giải pháp lớn góp phần thay đổi nếp nghĩ, cách làm của phụ nữ dân tộc thiểu số
Tạo sinh kế thông qua mô hình Hợp tác xã giúp người dân thoát nghèo Ảnh minh họa
ThS. Lê Thị Hồng Gái (Viện Khoa học Xã hội vùng Trung bộ và Tây Nguyên), đã có cuộc trao đổi với PV Báo Phụ nữ Việt Nam, xoay quanh vấn đề này ở địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.
- Thưa bà, Kon Tum (nay là Quảng Ngãi) là tỉnh miền núi biên giới có tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) rất cao. Bà có thể chia sẻ những nét khái quát về vai trò và kết quả nổi bật mà Hội LHPN tỉnh đã đạt được trong việc thay đổi "nếp nghĩ, cách làm" của phụ nữ DTTS, giúp họ vươn lên thoát nghèo bền vững?
Tỉnh Quảng Ngãi là một tỉnh có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất vùng Tây Nguyên. Năm 2023, toàn tỉnh có hơn 10.200 hộ nghèo, trong đó hộ nghèo DTTS chiếm tới 95%. Đây là một thách thức lớn, bởi muốn giảm nghèo bền vững không chỉ trông chờ chính sách hỗ trợ mà phải thay đổi từ chính nhận thức, nếp nghĩ và cách làm của người dân.
Trước thực trạng đó, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành Kết luận số 08-KL/TU về Cuộc vận động "Làm thay đổi nếp nghĩ, cách làm của đồng bào DTTS, làm cho đồng bào DTTS vươn lên thoát nghèo bền vững". Song song, Hội LHPN tỉnh được giao vai trò quan trọng trong triển khai Dự án 8 thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển KT-XH vùng đồng bào DTTS và miền núi.
Sau 3 năm thực hiện, có thể khẳng định rằng các cấp Hội đã tạo được chuyển biến tích cực. Cuộc vận động được triển khai sâu rộng đến từng thôn, làng. Chỉ tính riêng giai đoạn 2021-2023, toàn tỉnh xây dựng được hơn 860 mô hình kinh tế với tổng kinh phí gần 95 tỷ đồng, thu hút hàng chục nghìn hộ dân tham gia.

Phụ nữ dân tộc thiểu số tham gia phát triển kinh tế sẽ góp phần nâng cao vị thế của họ trong gia đình và ngoài xã hội (Ảnh minh hoạ)
Kết quả rất đáng ghi nhận: 74,61% hộ DTTS nghèo, cận nghèo đã thay đổi nếp nghĩ, bỏ dần hủ tục, không còn trông chờ ỷ lại vào Nhà nước; 62,31% hộ áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất; 26,2% hộ DTTS thoát nghèo, vượt chỉ tiêu đề ra hằng năm.
Đặc biệt, Hội LHPN tỉnh đã phát huy thế mạnh trong công tác tuyên truyền, vận động, gắn với cuộc vận động "Xây dựng gia đình 5 không, 3 sạch". Sau 3 năm, gần 45.000 hội viên phụ nữ DTTS được tuyên truyền và đã có sự thay đổi rõ rệt về nhận thức, hành động.
Hội cũng trực tiếp hỗ trợ hơn 1.700 hộ phụ nữ thoát nghèo. Đây là kết quả cho thấy vai trò hết sức quan trọng của Hội trong thúc đẩy phụ nữ DTTS tự lực vươn lên.
- Nhiều mô hình được triển khai tại cơ sở đã phát huy hiệu quả. Xin bà chia sẻ cụ thể hơn một số mô hình tiêu biểu do Hội LHPN tỉnh khởi xướng và hỗ trợ phụ nữ DTTS tham gia?
Có thể nói, các mô hình kinh tế do Hội phụ nữ phát động không chỉ tạo thu nhập mà còn thay đổi cách nghĩ, cách làm của chị em DTTS.
Chẳng hạn, tại xã biên giới Bờ Y, tỉnh Quảng Ngãi, Hội phụ nữ đã thành lập Tổ hợp tác trồng cây ăn quả cho chị em người Brâu - một trong những dân tộc rất ít người. Mô hình có 23 thành viên, được tập huấn kỹ thuật, cấp giống, phân bón và liên kết đầu ra.
Nhờ đó, chị em không chỉ cải thiện thu nhập mà còn chủ động mở rộng diện tích, tham gia kinh tế tập thể. Song song, sản phẩm rượu cần men lá của phụ nữ Brâu được hỗ trợ xây dựng thương hiệu OCOP, góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa và tăng nguồn thu nhập cho gia đình.

Gùi củi hứa hôn về nhà chồng của người Giẻ Triêng
Một ví dụ khác là phụ nữ Gié Triêng ở xã Bờ Y, tỉnh Quảng Ngãi. Với sự hỗ trợ của Hội phụ nữ và ngân sách Chương trình "Mỗi xã một sản phẩm", món cải khô muối lồ ô đã trở thành đặc sản địa phương, được đưa ra thị trường rộng rãi.
Những sản phẩm này không chỉ tạo nguồn thu ổn định mà còn giúp phụ nữ mạnh dạn tham gia vào phát triển du lịch cộng đồng, gắn kết bảo tồn văn hóa dân tộc với phát triển kinh tế.
Ngoài ra, Hội còn đẩy mạnh các mô hình chăn nuôi bò, heo, ong lấy mật; trồng sâm dây, sâm Ngọc Linh, mắc ca… và các mô hình cải tạo vườn tạp. Hàng chục nghìn hộ đã được hỗ trợ vốn, tập huấn khoa học kỹ thuật.
Đáng chú ý, 24,27% hộ DTTS nghèo và cận nghèo đã tham gia các tổ hợp tác, hợp tác xã - một con số vượt xa chỉ tiêu ban đầu. Đây chính là minh chứng cho sự thay đổi mạnh mẽ trong tư duy và cách làm ăn của chị em phụ nữ DTTS.
- Bên cạnh những kết quả đạt được, việc triển khai Cuộc vận động và Dự án 8 chắc hẳn vẫn còn những hạn chế, khó khăn. Bà có thể chỉ ra những thách thức lớn nhất hiện nay?
Đúng vậy, bên cạnh kết quả khả quan, vẫn còn không ít khó khăn.
Trước hết, công tác phối hợp giữa các cơ quan, ban ngành, địa phương chưa đồng bộ. Ở một số nơi, việc xây dựng kế hoạch còn mang tính rập khuôn, chưa sát với thực tế từng thôn, làng. Nguồn lực, đặc biệt là kinh phí dành cho xây dựng mô hình và truyền thông còn hạn hẹp, chưa đáp ứng nhu cầu.
Đối với Dự án 8, tỷ lệ giải ngân còn rất thấp: cấp tỉnh mới đạt 11,7%, cấp huyện khoảng 30,5%. Một số nội dung chưa triển khai đầy đủ, như trang bị thiết bị cho nhóm truyền thông, tập huấn về bình đẳng giới, hay xây dựng mô hình sinh kế do phụ nữ làm chủ.

Thiếu nữ người Giẻ Triêng trong trang phục truyền thống với xà cạp giúp tăng thêm vẻ đẹp nữ tính
Một thách thức khác là nguồn nhân lực ở cơ sở còn mỏng. Cán bộ Hội phụ nữ cấp huyện chỉ 3-4 người, vừa phải đảm trách công tác Hội, vừa gánh vác thêm nội dung Dự án 8 nên quá tải. Công tác kế toán tài chính cũng gặp khó khăn do thiếu cán bộ chuyên trách.
Về phía phụ nữ DTTS - chủ thể thụ hưởng - vẫn còn không ít rào cản. Một bộ phận chị em chưa mạnh dạn áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, còn tâm lý e ngại khi vay vốn để đầu tư, thậm chí vẫn có tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào Nhà nước.
Một số hủ tục như tảo hôn, sinh nhiều con, ngủ rẫy… chưa được xóa bỏ hoàn toàn. Đây là những yếu tố khiến tiến trình thay đổi nếp nghĩ, cách làm còn chậm, chưa bền vững.
- Trước những hạn chế đó, bà có kiến nghị giải pháp gì để nâng cao hiệu quả Cuộc vận động và Dự án 8 trong thời gian tới, góp phần giúp phụ nữ DTTS tỉnh Quảng Ngãi thoát nghèo bền vững?
Tôi cho rằng cần tập trung vào 4 nhóm giải pháp lớn.
Thứ nhất, tăng cường tuyên truyền, vận động bằng nhiều hình thức phong phú, dễ tiếp cận. Phát huy vai trò già làng, trưởng thôn, người uy tín trong cộng đồng – họ chính là cầu nối hiệu quả để thay đổi nhận thức của đồng bào.
Đồng thời, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ Hội ở cơ sở, giúp họ nắm chắc mục tiêu, phương pháp triển khai để hỗ trợ chị em sát sao hơn.
Thứ hai, các mô hình, dự án cần xuất phát từ nhu cầu thực tế, từ "tiếng nói" của chính phụ nữ DTTS. Phương pháp tiếp cận từ dưới lên sẽ giúp mô hình khả thi và thu hút sự tham gia chủ động của người dân.
Thứ ba, cần nhân rộng các mô hình hiệu quả, đặc biệt là mô hình kinh tế gắn với bảo tồn văn hóa, phát triển du lịch cộng đồng. Đây là hướng đi vừa giúp tăng thu nhập, vừa giữ gìn bản sắc dân tộc, tạo giá trị lâu dài.
Cuối cùng, cần tổ chức các hoạt động học tập, trao đổi kinh nghiệm, tham quan mô hình thành công để chị em "mắt thấy tai nghe", từ đó mạnh dạn thay đổi tư duy, cách làm. Đồng thời, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp Hội với các ban ngành, chính quyền, huy động nguồn lực từ nhiều phía để tạo sức lan tỏa mạnh mẽ hơn.
- Xin trân trọng cảm ơn bà!