Bảo tồn “vùng lõi”, cộng đồng giữ vai trò chủ thể khi đưa lễ hội vào du lịch
Đồng bào dân tộc Thái ở xã Châu Lộc (Nghệ An) tích cực tập luyện cho Lễ hội Xỏ Nặm Phạ (Lễ hội Cầu mưa) được tổ chức vào ngày 20/9 tới đây.
Lễ hội truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số đang trở thành một nguồn tài nguyên quan trọng để phát triển du lịch cộng đồng. Tuy nhiên, khi bước vào không gian du lịch, lễ hội có thể đứng trước nghịch lý: càng muốn hấp dẫn du khách, càng dễ bị rút gọn, sân khấu hóa hoặc điều chỉnh theo thị hiếu.
Trong khuôn khổ hoạt động tập huấn về phương pháp, kỹ năng bảo tồn lễ hội truyền thống gắn với phát triển du lịch của đồng bào dân tộc Thái ở Nghệ An do Cục Văn hóa các dân tộc Việt Nam - Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Nghệ An và các cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức được tổ chức, Báo PNVN đã có những trao đổi với PGS.TS Đinh Hồng Hải, Đại học Quốc gia Hà Nội về việc làm thế nào để vừa phát huy giá trị di sản, vừa tránh biến lễ hội thành một sản phẩm trình diễn đơn thuần.
- Thưa ông, khi một lễ hội truyền thống được đưa vào khai thác du lịch, đâu là việc cần làm trước tiên để vừa tạo sức hấp dẫn với du khách, vừa không làm mất đi bản sắc vốn có của lễ hội?
Điều đầu tiên phải xác định được đâu là giá trị cốt lõi của di sản. Nếu chưa trả lời được câu hỏi này mà đã tính đến việc xây dựng sản phẩm du lịch thì rất dễ rơi vào tình trạng lấy toàn bộ lễ hội để phục vụ du khách.
Theo tinh thần Công ước UNESCO 2003, có thể hình dung di sản thành 3 vùng. Vùng trong cùng là vùng lõi, tức những yếu tố quan trọng nhất, gắn với nghi lễ thiêng, niềm tin, tri thức, tập quán và những đặc trưng tạo nên bản sắc riêng của cộng đồng. Đây là phần cần được bảo vệ nghiêm ngặt.

Học viên đồng bào dân tộc Thái đến từ xã Châu Lộc (Nghệ An) tham gia hoạt động tập huấn về phương pháp, kỹ năng bảo tồn lễ hội truyền thống gắn với phát triển du lịch của đồng bào dân tộc Thái ở Nghệ An.
Tiếp theo là vùng đệm, gồm những yếu tố liên quan, phái sinh từ vùng lõi. Một phần trong đó có thể được khai thác nhưng vẫn phải bảo đảm chức năng bảo vệ các giá trị cốt lõi. Bên ngoài là vùng phát triển, đây là vùng có thể sáng tạo, tổ chức các hoạt động trải nghiệm và xây dựng sản phẩm du lịch.
Điều đáng lưu ý là không thể lấy toàn bộ lễ hội để phục vụ du lịch theo cùng một cách. Phải phân định được phần nào là bất khả xâm phạm, phần nào có thể giới thiệu và phần nào có thể sáng tạo thành sản phẩm. Khi xác định rõ "vùng lõi", chúng ta sẽ biết giới hạn của sự sáng tạo nằm ở đâu. Bảo tồn không có nghĩa là đóng băng di sản, nhưng sáng tạo cũng không có nghĩa là được phép thay đổi tất cả.
- Nhiều lễ hội có thời lượng dài, trong khi sản phẩm du lịch thường phải ngắn gọn, dễ tiếp cận. Vậy theo ông, chúng ta có thể rút ngắn, sân khấu hóa lễ hội đến mức nào mà vẫn bảo đảm tính chân thực của di sản?
Có thể rút ngắn, nhưng trước hết phải xác định chúng ta đang rút ngắn cái gì. Nếu đó là một nghi lễ thiêng, một thực hành văn hóa nguyên bản đang được cộng đồng thực hiện thì không nên tùy tiện cắt bỏ hoặc thay đổi chỉ vì lý do phục vụ du lịch.
Ngược lại, nếu xây dựng một chương trình mô phỏng, phục dựng hoặc giới thiệu di sản thì hoàn toàn có thể lựa chọn những phần tiêu biểu để giới thiệu trong thời lượng phù hợp. Tôi ví dụ, có những nghi lễ truyền thống kéo dài nhiều ngày, nhiều đêm. Không thể yêu cầu du khách theo dõi toàn bộ. Khi đó, có thể lựa chọn những phần đặc trưng nhất để giới thiệu.

PGS.TS Đinh Hồng Hải, Đại học Quốc gia Hà Nội chia sẻ kiến thức về việc khai thác, xây dựng sản phẩm du lịch từ lễ hội truyền thống.
Nhưng phải nói rõ đó là nghi lễ nguyên bản hay chương trình mô phỏng. Không thể đưa một phiên bản đã được cắt dựng lên sân khấu rồi gọi đó là toàn bộ lễ hội truyền thống. Sân khấu hóa vì thế không phải lúc nào cũng tiêu cực. Vấn đề là phải phân biệt giữa di sản sống và sản phẩm nghệ thuật lấy cảm hứng từ di sản.
Điều đáng lo nhất là sản phẩm sân khấu hóa sau đó quay trở lại đời sống cộng đồng và dần được coi như một phiên bản "chuẩn" của lễ hội. Khi ấy, cái được sáng tạo để phục vụ du lịch có thể từng bước thay thế cái nguyên bản.
- Một xu hướng khác là các địa phương học theo những mô hình du lịch đã thành công. Theo ông, làm thế nào để việc học hỏi không biến thành sao chép, đồng dạng hóa lễ hội?
Đây là vấn đề rất đáng lưu ý. Khi thấy một mô hình thành công, địa phương khác thường có xu hướng làm tương tự. Nhưng chúng ta quên rằng mỗi cộng đồng có một lịch sử, không gian sống và hệ thống văn hóa riêng.
Nếu địa phương A thành công nhờ một nghi lễ, lễ hội hay sản phẩm văn hóa đặc trưng thì địa phương B không nhất thiết phải sao chép mô hình đó. Họ có thể học hỏi về phương pháp tổ chức, cách quảng bá, cách kết nối các dịch vụ…, nhưng không thể sao chép chiều sâu văn hóa.

Lễ hội Xỏ Nặm Phạ (Lễ hội Cầu mưa) sẽ được tổ chức vào ngày 20/9.
Về lâu dài, sức hấp dẫn của một điểm đến nằm ở câu chuyện riêng, giá trị riêng và cộng đồng riêng. Nếu nơi nào cũng cùng một cách trình diễn, cùng một mô-típ lễ hội, cùng một sản phẩm thì sự đa dạng văn hóa sẽ bị thu hẹp.
Thay vì hỏi "địa phương khác làm gì thành công để mình làm theo?" thì nên đặt câu hỏi: "Cộng đồng mình đang có giá trị văn hóa nào độc đáo nào mà chưa được nhận diện và phát huy?" - đó mới là nền tảng để xây dựng sản phẩm du lịch có bản sắc.
- Trong quá trình biến lễ hội thành sản phẩm du lịch, cộng đồng nên giữ vai trò như thế nào để không trở thành những người chỉ "biểu diễn" văn hóa của chính mình, thưa ông?
Cộng đồng không nên chỉ là người thực hiện mà phải là chủ thể. Theo cách tiếp cận của UNESCO, cộng đồng là những người sở hữu và nắm giữ tri thức, kỹ năng, tập quán và những giá trị văn hóa được trao truyền qua nhiều thế hệ. Vì vậy, khi đưa lễ hội vào du lịch, không thể chỉ mời người dân ra biểu diễn rồi các đơn vị khác quyết định toàn bộ nội dung.
Cộng đồng cần tham gia từ đầu từ việc xác định giá trị nào cần bảo vệ, giá trị nào có thể giới thiệu, cách thức giới thiệu ra sao và đâu là những giới hạn không được vượt qua. Đặc biệt, với những nghi lễ thuộc về bản sắc cộng đồng, chính cộng đồng phải là người thực hành. Nếu đưa người ngoài vào thực hiện những nghi thức vốn chỉ thuộc về cộng đồng thì rất dễ làm mất đi ý nghĩa vốn có.
Vai trò của chính quyền, ngành Văn hóa và các nhà khoa học là tạo hành lang, hỗ trợ nguồn lực, nghiên cứu, tư liệu hóa, đào tạo và tư vấn chuyên môn; chứ không phải thay cộng đồng quyết định về di sản. Ba bên cần phối hợp, nhưng phải đúng vai. Trong đó, cơ quan quản lý tạo điều kiện, nhà khoa học cung cấp phương pháp và cộng đồng giữ vai trò chủ thể.

PGS.TS Đinh Hồng Hải cùng 85 nghệ nhân, học viên tham gia hoạt động tập huấn.
- Thưa ông, vậy làm thế nào để vừa tạo sinh kế cho người dân từ văn hóa, vừa tránh nguy cơ khai thác quá mức khiến lễ hội biến dạng? Đâu là tiêu chí để một lễ hội trở thành sản phẩm du lịch bền vững?
Tôi cho rằng phải bắt đầu từ đặc trưng văn hóa, chứ không phải bắt đầu bằng câu hỏi "lễ hội này có thể kiếm được bao nhiêu tiền?". Khi xác định được giá trị đặc trưng nhất, chúng ta mới xây dựng sản phẩm du lịch xung quanh nó.
Du khách có thể đến xem lễ hội nhưng cũng có thể ăn món ăn truyền thống, trải nghiệm nghề thủ công, tìm hiểu trang phục, nghe dân ca, tham gia trò chơi dân gian hoặc lưu trú tại cộng đồng. Khi đó, một lễ hội có thể tạo ra cả một hệ sinh thái sản phẩm, thay vì chỉ trở thành một chương trình biểu diễn. Nguồn lợi từ du lịch cũng cần quay trở lại cộng đồng ở mức phù hợp. Khi người dân nhìn thấy lợi ích chính đáng từ việc bảo tồn, họ sẽ có thêm động lực để tiếp tục gìn giữ.
Tuy nhiên, phải chấp nhận một nguyên tắc đó là có những thứ không thể bán và cũng không nên bán. Có những giá trị cần được giữ trong không gian cộng đồng; có những nghi lễ không nhất thiết phải trở thành sản phẩm du lịch. Phát triển du lịch phải nằm trong giới hạn của bảo tồn, chứ không phải bảo tồn phải điều chỉnh để chạy theo du lịch.
Trên tất cả, một lễ hội muốn phát triển bền vững phải tiếp tục sống trong cộng đồng. Nếu lễ hội chỉ được phục dựng một năm một lần để phục vụ khách du lịch, còn đời sống thường ngày không còn thực hành, người trẻ không còn tiếp nhận thì đó mới là điều đáng lo. Một sản phẩm du lịch có thể được tạo ra rất nhanh, nhưng một giá trị văn hóa tồn tại qua nhiều thế hệ cần thời gian, sự trao truyền và sự tham gia thực chất của cộng đồng.
Mục tiêu cuối cùng vì thế không phải là biến mọi lễ hội thành sản phẩm du lịch, mà là bảo tồn được những giá trị đặc sắc của cộng đồng và, trên cơ sở đó, lựa chọn những gì phù hợp để phát triển du lịch. Khi làm được điều này, du lịch không lấy đi bản sắc của lễ hội mà có thể tạo thêm nguồn lực để di sản tiếp tục sống, được biết đến và được thế hệ trẻ tự hào gìn giữ.
- Xin trân trọng cảm ơn ông!
Từ ngày 15 đến ngày 20/9/2026, Cục Văn hóa các dân tộc Việt Nam (Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch), phối hợp với Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch, UBND xã Châu Lộc, tỉnh Nghệ An tổ chức các hoạt động nhằm bảo tồn lễ hội truyền thống tại tỉnh Nghệ An khai thác, xây dựng sản phẩm phục vụ phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh.
Theo đó, Cục phối hợp tổ chức tập huấn về phương pháp, kỹ năng bảo tồn lễ hội truyền thống phục vụ phát triển du lịch tại phường Trường Vinh, tỉnh Nghệ An; Tổ chức truyền dạy kỹ năng thực hành các nghi lễ, nghi thức, trò chơi, trình diễn dân gian trong Lễ hội Xỏ Nặm Phạ của dân tộc Thái và Tổ chức trình diễn, tái diễn Lễ hội Xỏ Nặm Phạ của dân tộc Thái xã Châu Lộc, tỉnh Nghệ An.