Bình yên trưa vắng
Ảnh minh họa
Có lẽ với nhiều người, buổi trưa là khoảng thời gian lý tưởng để nghỉ ngơi. Còn với tôi, đó lại là lúc dành cho những suy ngẫm. Giữa văn phòng làm việc trong một tòa nhà cao tầng, khi tiếng điều hòa rì rầm hòa cùng nhịp gõ bàn phím đều đặn, tôi bỗng thấy mình như mắc kẹt trong một khoảng không tĩnh mịch lạ thường.
Chỉ một tiếng lách cách mở cửa hay tiếng còi xe vọng lại từ xa ngoài phố cũng đủ làm gợn lên mặt hồ yên ả của tâm trí. Chính trong khoảnh khắc ấy, dòng hồi tưởng nhẹ nhàng đưa tôi lội ngược dòng ký ức, trở về với những trưa vắng nồng nàn mùi muối mặn nơi vùng quê quen thuộc…
Khi nắng lên đến đỉnh đầu, người ta thường tìm đến những bóng râm mát để tránh nóng, thì với người làm muối, đó lại là thời khắc lao động nhọc nhằn nhất. Nhà nào ít thì một, hai người lớn, có nhà ba, bốn người, cả ông bà, ai còn sức lao động đều không quản nắng nôi, tất bật ra đồng. Buổi trưa, trong làng vì thế mà vắng bóng người lớn, chỉ còn lại lũ trẻ con nghịch ngợm, ham chơi như chúng tôi. Đứa nào cũng diễn chung một màn kịch cũ rích: Giả vờ ngoan ngoãn leo lên giường, nằm im thin thít, mắt nhắm nghiền như ngủ say, chỉ chờ bố mẹ ra đồng là lẻn dậy. Tiếng huýt sáo của "đồng đội" ngoài hàng rào vang lên như mật hiệu, thúc bọn trẻ quên cả đội mũ, đi dép, cứ thế đầu trần chân đất lao ra nắng.
Chúng tôi dắt tay nhau đi trên con đường quê khô khốc đầy cát sỏi, nóng hầm hập dưới chân, vậy mà những bàn chân bé xíu chẳng hề biết mệt. Sau khi rầm rì kể đủ thứ chuyện trên đời, cả bọn bắt đầu "hành động". Vừa đi vừa thì thầm bàn kế hoạch, đứa đứng gác đầu rào, đứa nhẹ nhàng lẻn vào vườn vặt vội vài quả xoài, đôi ba quả ổi còn xanh. Quả nào trông chừng sắp ăn được thì bấm móng tay lên vỏ để… đánh dấu. Chiến lợi phẩm mang ra một góc vườn râm mát, chúng tôi đổ vội nắm muối hạt trắng tinh, xen lẫn những miếng ớt đỏ rực ra tàu lá chuối, rồi cùng nhau thưởng thức vị chua giòn tan quyện với cái mặn mòi, cay xè đến chảy nước mắt.
Những trò bày vẽ trẻ con cứ thế kéo dài xuyên trưa, biến góc vườn tĩnh mịch thành vương quốc riêng của chúng tôi. Lạ thay, rong chơi suốt những buổi trưa như thế mà chẳng đứa nào buồn ngủ. Đến chiều vẫn tỉnh bơ, lại ra đồng gom muối giúp bố mẹ. Trẻ con làng muối, đứa nào tóc cũng hoe vàng vì nắng và mồ hôi mằn mặn.
Tôi vẫn nhớ mãi lần được bố mua cho đôi dép mới. Tôi chạy đi khoe khắp xóm, không sót một đứa nào. Được lũ bạn tung hô, tôi như có thêm "dũng khí", liền cùng đồng bọn vượt rào vào vườn hái trộm ổi. Đang trèo trên ngọn cây cao, hớn hở vặt những quả chín vàng ném xuống cho lũ bạn phía dưới nhặt bỏ vào túi, thì bỗng nghe tín hiệu báo chủ nhà đi làm muối về bất ngờ. Bọn dưới gốc chạy mất tăm, tôi cũng cuống cuồng tụt xuống, về nhà rồi ung dung leo lên giường ngủ một mạch đến chiều. Tỉnh dậy đã thấy bố và bác hàng xóm đứng chờ sẵn với cây roi mây. Hóa ra đôi dép mới chính là "bằng chứng" tố cáo tôi.
Khi bác hàng xóm về, tôi sợ hãi leo lên giường nằm sấp, ngọn roi mây từ tay bố quất xuống vun vút, đau thấu trời mà không dám kêu. Tính bố tôi là vậy, mỗi lần đã dặn mà con không nghe, ông phạt nghiêm đến nhớ đời để không tái phạm. Sau này lớn lên, tôi mới hiểu, điều khiến bố giận không phải thói ham chơi, mà vì nỗi lo cho đứa con gái nhỏ suốt trưa phơi mình giữa nắng gắt, lại còn leo trèo cây cao, lỡ ngã thì không biết hậu quả ra sao.
Thói quen không ngủ trưa theo tôi suốt năm tháng. Cũng như tôi, những đứa trẻ nghịch ngợm lớn lên từ làng muối giờ đã đi khắp phương trời. Mỗi năm đôi ba lần về quê, có dịp gặp lại, chúng tôi vẫn tranh nhau kể không ngớt những "chiến tích" ngày xưa…
Giữa phố thị, thật hiếm có những buổi trưa bình yên. Tôi bỗng thèm cảm giác đôi chân trần chạm vào cát nóng, thèm mùi muối mặn nồng và cả tiếng huýt sáo gọi nhau giữa trưa vắng. Những vết sẹo tuổi thơ đã mờ theo năm tháng, nhưng sự bình yên của những buổi trưa ấy vẫn luôn là khoảng trời trong trẻo nhất để tôi trú ngụ mỗi khi lòng chênh vênh giữa dòng đời hối hả.