Xem thêm thông tin của Báo PNVN trên
Phụ nữ Việt Nam
MỚI NHẤT ĐỘC QUYỀN MULTIMEDIA CHUYÊN ĐỀ

Lồng ghép giới trong đào tạo giáo viên: Ranh giới mong manh giữa "có nhắc đến" và "làm thực chất"

HTK
Lồng ghép giới trong đào tạo giáo viên: Ranh giới mong manh giữa "có nhắc đến" và "làm thực chất"

Đào tạo ra những thầy cô có đủ nhận thức, năng lực về giới và bình đẳng giới sẽ lan tỏa tới nhiều thế hệ học sinh trong tương lai. Ảnh minh họa Bộ GD&ĐT

Theo các chuyên gia, việc đưa nội dung giới, bình đẳng giới vào chương trình đào tạo giáo viên không khó ở việc "có hay không", mà khó ở chỗ làm sao để không dừng lại ở hình thức.

Khoảng cách giữa "làm cho có" và "làm cho hiệu quả"

Theo Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021-2030 (Nghị quyết số 28/NQ-CP của Chính phủ), giáo dục được xác định là một trong sáu lĩnh vực trọng tâm cần thúc đẩy bình đẳng giới. Trên cơ sở đó, Đề án "Đưa việc giảng dạy nội dung về giới, bình đẳng giới vào chương trình đào tạo giáo viên trình độ cao đẳng ngành Giáo dục mầm non và trình độ đại học giai đoạn 2024-2030", được Bộ GD&ĐT phê duyệt tại Quyết định số 4247/QĐ-BGDĐT ngày 12/12/2023. Trong đó đặt mục tiêu đến giai đoạn 2025-2026, toàn bộ cơ sở đào tạo giáo viên trên cả nước phải đưa nội dung giới và bình đẳng giới vào chương trình chính thức, với đội ngũ giảng viên, tài liệu và phương pháp giảng dạy được chuẩn hóa.

Tuy nhiên, càng đến gần thời điểm về đích, một câu hỏi đang khiến nhiều cơ sở đào tạo lúng túng: thế nào mới được coi là đã "giảng dạy chính thức" nội dung về giới trong nhà trường sư phạm? Và xa hơn, làm sao để việc lồng ghép này không chỉ là một hoạt động mang tính phong trào, mà thực sự làm thay đổi cách người thầy tương lai nhìn nhận, đối xử với học trò của mình?

Lồng ghép giới trong đào tạo giáo viên: Ranh giới mong manh giữa "có nhắc đến" và "làm thực chất" - Ảnh 1.

Bà Nguyễn Thị Thu Thủy, Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục Đại học (Bộ GD&ĐT)

Bà Nguyễn Thị Thu Thủy, Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục Đại học (Bộ GD&ĐT), thẳng thắn chỉ ra vướng mắc: Các cơ sở đào tạo vẫn còn lúng túng trong việc xác định thế nào là "giảng dạy chính thức" nội dung về giới và bình đẳng giới trong chương trình. Việc tích hợp không nhất thiết đồng nghĩa với việc mọi trường phải xây dựng một học phần độc lập. Tùy đặc thù ngành đào tạo và quyền tự chủ của nhà trường, nội dung có thể được tổ chức thành học phần riêng, tích hợp hoặc lồng ghép vào các học phần phù hợp. "Nhưng ranh giới giữa "có nhắc đến" và "đã tích hợp thực chất" vẫn chưa thực sự rõ ràng ở nhiều nơi", bà Thu Thủy nhìn nhận.

Nhiều cơ sở đào tạo hiện mới dừng ở cách tiếp cận "có hoạt động" — tức xác nhận rằng nhà trường đã tổ chức hội thảo, đã có tài liệu, hoặc giảng viên có đề cập đến nội dung giới. Nhưng lại chưa chuyển sang cách tiếp cận "có kết quả học tập", nghĩa là chứng minh được người học thực sự đã hình thành năng lực nhận diện, phân tích và xử lý các vấn đề giới trong thực hành nghề nghiệp. Nhưng một câu hỏi quan trọng hơn nhiều lại chưa được trả lời thấu đáo: Sau khi học xong, sinh viên sư phạm là những người thầy, người cô tương lai có thực sự hình thành được năng lực nhận diện, phân tích và xử lý các vấn đề giới trong thực hành nghề nghiệp hay không? Đây chính là khoảng cách giữa việc "làm cho có" để hoàn thành yêu cầu và việc "làm cho hiệu quả" để tạo ra sự thay đổi thực chất — một khoảng cách mà nhiều trường sư phạm đang phải đối diện nhưng chưa có công cụ đo lường, đánh giá phù hợp.

Sâu xa hơn, cách đặt vấn đề này cũng cho thấy một nhận thức cần được thống nhất rộng rãi hơn trong toàn ngành: Giáo dục không chỉ là nơi truyền thụ tri thức, mà còn góp phần hình thành nhân cách, hệ giá trị và cách ứng xử xã hội của con người ngay từ những năm tháng đầu đời. Vì vậy, nếu muốn thúc đẩy bình đẳng giới trong xã hội, điểm khởi đầu buộc phải là chính môi trường giáo dục — từ chương trình, học liệu, phương pháp giảng dạy, cách tổ chức các hoạt động, và quan trọng nhất là từ nhận thức, thái độ, hành vi nghề nghiệp của chính đội ngũ nhà giáo. Một giáo viên vô tình duy trì định kiến giới trong lời nói, trong cách phân công nhiệm vụ hay cách kỳ vọng vào học sinh nam, học sinh nữ, dù không cố ý, vẫn có thể góp phần củng cố những khuôn mẫu bất bình đẳng cho cả một thế hệ học trò.

Lồng ghép giới trong đào tạo giáo viên: Ranh giới mong manh giữa "có nhắc đến" và "làm thực chất" - Ảnh 2.

Sinh viên trường Đại học sư phạm Hà Nội. Ảnh minh họa

Tích hợp thực chất, nhưng không đội thêm gánh nặng chương trình

Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Thị Quyên Thanh cũng nhìn nhận thẳng thắn: tích hợp nội dung về giới và bình đẳng giới trong chương trình đào tạo giáo viên không nên được xem đơn thuần là việc bổ sung thêm một nội dung vào chương trình sẵn có. Theo Thứ trưởng, giáo dục không chỉ truyền thụ tri thức mà còn góp phần hình thành nhân cách, hệ giá trị và cách ứng xử xã hội của mỗi con người ngay từ những năm đầu đời. Do đó, thúc đẩy bình đẳng giới trong giáo dục trước hết phải bắt đầu từ chính môi trường giáo dục, từ chương trình, học liệu, phương pháp, cách tổ chức hoạt động và quan trọng nhất là từ nhận thức, thái độ, hành vi nghề nghiệp của đội ngũ nhà giáo.

Bài toán đặt ra cho các cơ sở đào tạo giáo viên, do đó, không đơn giản chỉ là "thêm nội dung" mà là làm sao xác định đúng mục tiêu, chuẩn đầu ra và cách triển khai để việc tích hợp thực sự đi vào chiều sâu. Trước hết, mục tiêu của việc lồng ghép không thể dừng ở việc sinh viên sư phạm biết thêm một vài khái niệm lý thuyết về giới và bình đẳng giới. Yêu cầu đặt ra cao hơn, giáo viên tương lai phải có khả năng nhận diện những biểu hiện của định kiến và bất bình đẳng giới ngay trong môi trường giáo dục hằng ngày. Thầy cô biết lựa chọn ngôn ngữ, phương pháp và cách tổ chức hoạt động phù hợp. Cũng như biết tạo cơ hội để mỗi học sinh được tham gia, được tôn trọng, được phát triển năng lực mà không bị bó buộc bởi những khuôn mẫu giới có sẵn. Điều này đòi hỏi chuẩn đầu ra phải được xây dựng cụ thể, có thể quan sát và đánh giá được, gắn trực tiếp với năng lực nghề nghiệp thực tế của người giáo viên, thay vì chỉ là những tuyên bố chung chung mang tính khẩu hiệu.

Lồng ghép giới trong đào tạo giáo viên: Ranh giới mong manh giữa "có nhắc đến" và "làm thực chất" - Ảnh 3.

Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Thị Quyên Thanh phát biểu tại Hội thảo “Triển khai tích hợp nội dung về giới, bình đẳng giới trong chương trình đào tạo giáo viên”

Song song với đó là một thách thức không nhỏ về mặt kỹ thuật chương trình đào tạo. Trong đó, làm sao để việc tích hợp diễn ra thực chất mà không biến thành gánh nặng mới cho sinh viên và nhà trường. Theo các chuyên gia, xu hướng cơ học là thêm môn học mới, thêm nội dung, thêm thủ tục chỉ để có căn cứ báo cáo đã hoàn thành yêu cầu là điều cần tránh. Thay vào đó, các cơ sở đào tạo cần chủ động rà soát lại toàn bộ chương trình hiện hành để lựa chọn những nội dung, học phần và hoạt động phù hợp, tích hợp xuyên suốt từ mục tiêu, nội dung, phương pháp giảng dạy cho đến khâu thực hành, thực tập sư phạm và đánh giá sinh viên. Mức độ và cách thức tích hợp có thể khác nhau giữa các ngành đào tạo, giữa các trường, nhưng dù linh hoạt đến đâu, tự chủ của nhà trường vẫn phải đi liền với chuẩn đầu ra rõ ràng và trách nhiệm giải trình về chất lượng.

Một điều kiện then chốt khác, chính là năng lực của chính đội ngũ giảng viên. Muốn sinh viên sư phạm hình thành được nhận thức và kỹ năng đúng đắn về giới, trước hết bản thân người giảng dạy họ phải có nhận thức, kiến thức và phương pháp sư phạm phù hợp. Nếu thiếu sự đầu tư bài bản cho việc bồi dưỡng giảng viên, xây dựng học liệu chất lượng và hình thành đội ngũ chuyên gia nòng cốt, thì dù chương trình có được thiết kế tốt đến đâu trên giấy tờ, việc triển khai trong thực tế vẫn khó tránh khỏi hình thức, chắp vá.

Về lộ trình triển khai, Thứ trưởng Nguyễn Thị Quyên Thanh lưu ý cần có bước đi phù hợp. Việc thí điểm, đánh giá, điều chỉnh trước khi nhân rộng, tránh nóng vội hoặc áp dụng một mô hình đồng loạt cho tất cả các cơ sở đào tạo. Trong quá trình tham khảo kinh nghiệm quốc tế, Thứ trưởng cũng nhấn mạnh cần tiếp thu có chọn lọc những giá trị và phương pháp phù hợp, đồng thời bảo đảm sự thống nhất với chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các giá trị văn hóa, đạo đức, truyền thống dân tộc và thực tiễn giáo dục Việt Nam.

Nhìn xa hơn những con số hay tỷ lệ trường đã "hoàn thành tích hợp", điều mà ngành giáo dục thực sự hướng tới là đào tạo ra những người thầy có đủ nhận thức, năng lực và trách nhiệm để xây dựng một môi trường học đường công bằng, nhân văn, nơi mỗi học sinh bất kể giới tính đều được tôn trọng và có điều kiện phát triển tốt nhất khả năng của mình. Nếu làm được điều đó, tác động sẽ không chỉ dừng lại trong khuôn viên các trường sư phạm, mà còn lan tỏa tới nhiều thế hệ học sinh, thông qua chính những giáo viên đang được đào tạo ngày hôm nay.

Ý kiến của bạn
Bình luận