Xem thêm thông tin của Báo PNVN trên
Phụ nữ Việt Nam
MỚI NHẤT ĐỘC QUYỀN MULTIMEDIA CHUYÊN ĐỀ
05/09/2026 - 07:40 (GMT+7)

Phụ nữ ở đô thị: Tăng trưởng cao nhưng sinh kế phải bền vững - Bài cuối: Không để phụ nữ tụt lại phía sau tăng trưởng

Đình Hưng (Thực hiện)
Phụ nữ ở đô thị: Tăng trưởng cao nhưng sinh kế phải bền vững - Bài cuối: Không để phụ nữ tụt lại phía sau tăng trưởng

Phụ nữ mưu sinh trên đường phố TPHCM. Ảnh minh họa

Ngày 24/8, với đa số đại biểu có mặt tán thành, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị. Đây là quyết định quan trọng, là bệ phóng để các đô thị như TPHCM bức tốc, phát huy thế mạnh, khẳng định vai trò “đầu tàu” về phát triển kinh tế của cả nước.

Trong tiến trình phát triển ấy, phụ nữ là lực lượng quan trọng thúc đẩy phát triển đô thị. Tuy nhiên, tăng trưởng chỉ bền vững khi đi cùng việc làm ổn định, thu nhập đủ sống và an sinh bao trùm, nhất là với lao động nữ nhập cư, phụ nữ làm việc phi chính thức và các nhóm yếu thế.

Phóng viên Báo Phụ nữ Việt Nam có cuộc trao đổi với PGS.TS Nguyễn Đức Lộc, Viện trưởng Viện Nghiên cứu đời sống xã hội (SocialLife), liên quan đến vấn đề này.

+ Trong thời gian qua, kinh tế TPHCM tiếp tục đạt được những kết quả tích cực. Với việc Quốc hội đã thông qua Luật Phát triển đô thị, theo ông, điều này có tác động thế nào đến đời sống, việc làm, thu nhập của người dân, đặc biệt là đối với phụ nữ trên địa bàn?

PGS.TS Nguyễn Đức Lộc: Từ góc độ nghiên cứu đời sống xã hội, tôi cho rằng chúng ta đang chứng kiến hai chuyển động lớn cùng lúc: một siêu đô thị đang tăng tốc và một đạo luật trao cho chính quyền đô thị nhiều quyền tự chủ cùng các công cụ quản lý mạnh, nhanh và linh hoạt. Đây là bước tiến thể chế đáng hoan nghênh, bởi một đô thị có quy mô và độ phức tạp như TPHCM thật sự cần nhiều tốc độ hơn để tháo những nút thắt về ngập nước, kẹt xe và nhà ở đã kìm hãm nhiều năm.

Phụ nữ ở đô thị: Tăng trưởng cao nhưng sinh kế phải bền vững - Bài cuối: Không để phụ nữ tụt lại phía sau tăng trưởng- Ảnh 1.

Phụ nữ mưu sinh trên đường phố TPHCM. Ảnh minh họa

Nhưng mỗi chủ trương lớn không chỉ là một quyết định kỹ thuật hay hành chính, mà là một cuộc chuyển dịch xã hội chạm tới sinh kế, thói quen và lối sống của hàng triệu con người. Vì thế, câu hỏi tôi thường tự đặt ra rất giản dị: lợi ích và gánh nặng của tốc độ phát triển ấy sẽ được phân bổ ra sao giữa các nhóm dân cư?

Ở chiều cơ hội, sự phát triển của siêu đô thị mở ra một thị trường việc làm rộng hơn trong dịch vụ, thương mại, kinh tế đêm và các ngành sáng tạo; hạ tầng giao thông và nhà ở được đầu tư mạnh hơn; hệ thống an sinh được định hướng mở rộng đối tượng, nâng mức thụ hưởng, cùng những cơ chế đáng chú ý như nhà lưu trú cho công nhân. Với nhiều phụ nữ, nhất là lao động trẻ có kỹ năng, đây là một không gian cơ hội thực sự về việc làm và thu nhập.

Nhưng ở chiều còn lại, chúng ta cần nhìn thẳng vào cấu trúc dân cư của đô thị này. Khảo sát của Viện chúng tôi với 400 lao động ngoài trời tại 4 thành phố lớn cho thấy phần đông chưa hoàn thành bậc trung học phổ thông, thu nhập quanh mức 7 triệu đồng mỗi tháng, không hợp đồng lao động, không bảo hiểm xã hội; một nửa nhóm thu nhập thấp nhất vẫn ở diện tạm trú dù đã sống tại đô thị hơn 10 năm. Trong bức tranh ấy, phụ nữ hiện diện rất đông: chị bán hàng rong, chị giúp việc theo giờ, nữ công nhân trong khu nhà trọ. Họ vừa mưu sinh vừa gánh vai trò chăm sóc gia đình, nên mọi xáo trộn về chỗ ở, chỗ bán hàng, trường học của con hay giá cả sinh hoạt đều dội vào họ hai lần.

Vì vậy, tác động của những chuyển động này là tích cực hay tiêu cực sẽ tùy thuộc rất nhiều vào một điều: trong tiến trình phát triển, những con người cụ thể ấy hiện diện như những chủ thể có tiếng nói riêng, hay chủ yếu như đối tượng chịu tác động của chính sách. Cách chúng ta trả lời câu hỏi này sẽ định hình mức độ bền vững của cả cuộc chuyển dịch.

+ Vậy đâu là những thách thức lớn nhất đối với người phụ nữ tại TPHCM, đặc biệt là với nhóm phụ nữ dễ bị tổn thương như lao động nhập cư, phụ nữ đơn thân, người bán hàng nhỏ lẻ… trong bối cảnh hiện nay và tương lai gần?

PGS.TS Nguyễn Đức Lộc: Câu hỏi này chạm đến điều tôi trăn trở nhất khi đọc các văn bản chính sách đô thị gần đây. Tôi muốn nói ngay rằng thách thức lớn nhất không nằm ở chỗ người phụ nữ thiếu năng lực, mà ở chỗ sinh kế và đời sống của họ gắn rất chặt với những thứ dễ bị xáo trộn nhất trong một cuộc chuyển dịch đô thị nhanh.

Thứ nhất là sinh kế gắn với không gian. Gánh hàng của chị bán hàng rong, sạp nhỏ ở chợ truyền thống, quán nước trước con hẻm đều sống nhờ vỉa hè, mặt tiền, kênh rạch, tức chính những không gian mà các chương trình chỉnh trang, di dời và khai thác thương mại đang điều chỉnh. Di dời không chỉ là chuyển một hộ từ điểm này sang điểm khác; nó có thể phá vỡ cả mạng lưới hàng xóm trông con giúp nhau, chia sẻ thông tin việc làm, cho "vay nóng" lúc ngặt nghèo. Với người phụ nữ, mất mạng lưới ấy là mất một nửa khả năng xoay xở. Liệu khu tái định cư có chỗ cho gánh hàng của chị không, có ai trông con giúp chị lúc 5 giờ sáng không?

Thứ hai là cuộc chuyển đổi kép, số hóa và xanh hóa. Phụ nữ trung niên mất việc ở các ngành thâm dụng lao động rất khó tái gia nhập thị trường khi kỹ năng số trở thành điều kiện tuyển dụng; người dùng chiếc xe máy cũ làm công cụ mưu sinh sẽ là nhóm gánh chi phí chuyển đổi phương tiện sớm nhất; và khi dịch vụ hành chính, phúc lợi chuyển lên nền tảng số, những người chưa quen thủ tục, chưa đủ giấy tờ tùy thân có thể vô tình bị bỏ lại bên ngoài, dù hệ thống được thiết kế với ý định tốt.

Thứ ba là tấm đệm an sinh còn mỏng trong khi rủi ro ngày càng dày. Phần lớn phụ nữ lao động phi chính thức không có bảo hiểm xã hội, không có hợp đồng lao động, trong khi nắng nóng cực đoan và ngập lụt đang tác động sớm nhất và nặng nhất vào chính họ; khảo sát của Viện cho thấy gần 80% lao động ngoài trời gặp vấn đề sức khỏe do thời tiết. Với người phụ nữ đơn thân nuôi con, chỉ một cú sốc, một trận ốm hay 1 tháng mất chỗ bán hàng, cũng đủ đẩy cả gia đình vào chênh vênh.

3 thách thức ấy không tách rời nhau mà cộng hưởng, và chúng cộng hưởng mạnh nhất ở đúng những người ít có khả năng tự bảo vệ nhất. Đó là lý do tôi cho rằng mức độ quan tâm tới nhóm này chính là phép thử cho tính bao trùm của mọi chính sách phát triển đô thị.

+ Theo ông, TPHCM cần làm gì để người dân được thụ hưởng những thành quả của sự phát triển kinh tế, không để ai bị bỏ lại phía sau?

PGS.TS Nguyễn Đức Lộc: Từ góc độ nghiên cứu đời sống xã hội, tôi cho rằng điều Thành phố cần trước hết không phải là thêm một chương trình hỗ trợ, mà là một cách đặt thước đo: lấy con người cụ thể, đặc biệt là người ít có khả năng tự bảo vệ nhất, làm tiêu chí đánh giá mọi chính sách. Đó chính là tinh thần vị nhân sinh mà tôi tin cần trở thành triết lý xuyên suốt của một siêu đô thị.

Trên tinh thần ấy, tôi hình dung 3 việc cụ thể. Thứ nhất, xác lập một sàn an sinh phổ quát được bảo đảm bằng ngân sách công, phân định rõ với phần xã hội đóng góp thêm. Người yếu thế không thể sống bằng những đợt vận động không đoán định trước; họ cần một sự bảo đảm ổn định về y tế, giáo dục cho con cái và mức sống tối thiểu, bất kể có hợp đồng lao động hay không.

Thứ hai, giữ đúng trình tự của chuyển đổi: hạ tầng và phương án sinh kế đi trước, biện pháp hạn chế và di dời theo sau. Chỉ nên hạn chế phương tiện cá nhân khi vận tải công cộng đã đủ phủ và đủ rẻ; chỉ nên di dời khi nơi ở mới bảo đảm khả năng tiếp cận trường học, y tế và chỗ mưu sinh, kèm theo đánh giá tác động xã hội và tham vấn cộng đồng thực chất chứ không chỉ thông báo một chiều. Thước đo thành công của một dự án di dời không phải là tiến độ bàn giao mặt bằng, mà là việc người dân có giữ được sinh kế sau di dời hay không.

Thứ ba, kiến tạo thay vì cấm đoán trong quản trị không gian đô thị: dành chỗ hợp thức cho sinh kế phi chính thức trong các khu thương mại và kinh tế đêm, giữ cho không gian công cộng thật sự công cộng, nghĩa là rộng mở cho mọi tầng lớp chứ không chỉ nhóm có khả năng tiêu dùng, và mở các kênh để người dân tham gia như những chủ thể tự nguyện chứ không chỉ tuân thủ một cách bị động. Đại dịch Covid-19 vừa qua đã cho chúng ta một bài học đắt giá, khi hơn một triệu người lao động rời Thành phố và nhiều người không quay lại: đô thị giữ chân con người không phải bằng những tòa nhà cao tầng, mà bằng một đời sống có phẩm giá.

Tôi tin rằng, nếu Thành phố kiên trì lấy phúc lợi của người dân, trong đó có những người phụ nữ đang lặng lẽ mưu sinh mỗi ngày, làm thước đo phát triển, chúng ta hoàn toàn có thể xây dựng một siêu đô thị vừa năng động vừa nhân hậu, nơi thành quả của tăng trưởng được chia sẻ và thật sự không ai bị bỏ lại phía sau.

+ Xin trân trọng cảm ơn ông!

Ý kiến của bạn
Bình luận
Xem thêm bình luận