Tái cấu trúc kênh dẫn vốn: Thêm cơ hội cho doanh nghiệp nữ
Ảnh minh họa
Mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số trong những năm tới đòi hỏi nguồn lực đầu tư rất lớn, trong khi hệ thống tín dụng ngân hàng vẫn đang "gánh" phần lớn nhu cầu vốn của nền kinh tế. Phát triển đồng bộ thị trường chứng khoán, thị trường trái phiếu và các kênh huy động vốn dài hạn vì thế không chỉ là yêu cầu của quá trình tái cấu trúc nền kinh tế mà còn mở ra cơ hội tiếp cận nguồn lực cho khu vực doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ.
Tín dụng ngân hàng vẫn "gánh" phần lớn nhu cầu vốn
Sau gần 40 năm đổi mới, Việt Nam vẫn là một trong những nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào tín dụng ngân hàng. Quy mô dư nợ tín dụng hiện đã vượt 17 triệu tỷ đồng, tương đương khoảng 145% GDP - mức khá cao so với nhiều quốc gia trong khu vực.
Trong khi đó, các kênh huy động vốn trực tiếp vẫn chưa phát huy hết vai trò. Thị trường chứng khoán hiện có quy mô vốn hóa khoảng 7,8-8 triệu tỷ đồng, tương đương 70-75% GDP, song lượng vốn mới huy động cho doanh nghiệp vẫn chưa tương xứng với nhu cầu phát triển. Thị trường trái phiếu doanh nghiệp sau giai đoạn điều chỉnh mạnh trong các năm 2022-2023 mới đang từng bước phục hồi về niềm tin và thanh khoản.
Các số liệu cho thấy xu hướng cải thiện đang diễn ra. Năm 2025, tổng giá trị huy động vốn thông qua phát hành cổ phiếu và phát hành trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ đạt khoảng 763.500 tỷ đồng. Đến giữa tháng 6/2026, doanh nghiệp đã huy động được khoảng 114.100 tỷ đồng qua phát hành cổ phiếu, tăng hơn 67% so với cùng kỳ năm trước, trong khi giá trị phát hành trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ đạt khoảng 148.800 tỷ đồng, tương đương cùng kỳ năm 2025.

Dù vậy, quy mô này vẫn còn khá khiêm tốn nếu đặt cạnh lượng vốn tín dụng mà hệ thống ngân hàng đang cung ứng cho nền kinh tế. Điều đó khiến cấu trúc dẫn vốn vẫn mang dáng dấp của một "kiềng ba chân", nhưng gần như toàn bộ trọng lượng vẫn đang dồn lên hệ thống ngân hàng.
Trong thực tế, các doanh nghiệp nhỏ và vừa là nhóm chịu tác động rõ nhất từ sự phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng. Với nhiều doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ, rào cản tiếp cận vốn không chỉ nằm ở quy mô còn nhỏ mà còn ở việc thiếu tài sản bảo đảm hoặc chưa đáp ứng đầy đủ các tiêu chí tín dụng truyền thống.
Việc phát triển đa dạng các kênh huy động vốn như thị trường chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp, quỹ đầu tư hay quỹ đầu tư mạo hiểm sẽ giúp doanh nghiệp có thêm lựa chọn thay vì chỉ phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng. Với các doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ, điều này đặc biệt có ý nghĩa khi nhiều doanh nghiệp còn gặp khó khăn về tài sản bảo đảm nhưng có nhu cầu vốn lớn để đầu tư công nghệ, chuyển đổi số và mở rộng sản xuất.
Việc phụ thuộc quá lớn vào tín dụng ngân hàng cũng đồng nghĩa mỗi khi chính sách tiền tệ phải điều chỉnh nhằm kiểm soát lạm phát, ổn định tỷ giá hoặc bảo đảm an toàn hệ thống, khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp sẽ chịu tác động đáng kể. Đây cũng là lý do việc phát triển đồng bộ các thị trường vốn được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong nhiều chủ trương lớn của Đảng và Chính phủ.
Đáng chú ý, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân và Nghị quyết số 79-NQ/TW của Bộ Chính trị đều nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện đồng bộ thị trường tài chính, phát triển mạnh thị trường vốn, thị trường chứng khoán và thị trường trái phiếu nhằm giảm dần sự phụ thuộc của nền kinh tế vào tín dụng ngân hàng.
Để thị trường vốn thực sự dẫn dắt nguồn vốn dài hạn
Theo ông Đặng Thành Tâm, Chủ tịch HĐQT Tổng công ty CP Phát triển đô thị Kinh Bắc (KBC), khi gánh nặng cung ứng vốn được phân bổ hợp lý giữa hệ thống ngân hàng, thị trường chứng khoán, thị trường trái phiếu và các dòng vốn quốc tế, nền kinh tế sẽ có thêm nguồn lực cho đầu tư dài hạn vào hạ tầng, đổi mới sáng tạo và các ngành chiến lược.
Ông cho rằng Việt Nam có thể tham khảo kinh nghiệm của nhiều nền kinh tế phát triển, nơi tín dụng ngân hàng chỉ là một trong nhiều kênh cung ứng vốn, còn thị trường vốn mới thực sự giữ vai trò dẫn dắt quá trình huy động nguồn lực dài hạn cho doanh nghiệp.

Cùng quan điểm, bà Vũ Thị Chân Phương, Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, cho rằng trong giai đoạn phát triển mới với mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững, việc huy động hiệu quả các nguồn lực cho đầu tư có ý nghĩa quyết định. Trong đó, thị trường chứng khoán giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc cung ứng nguồn vốn trung và dài hạn cho doanh nghiệp và nền kinh tế.
Theo bà Phương, huy động vốn qua thị trường chứng khoán không chỉ giúp doanh nghiệp bổ sung nguồn lực tài chính mà còn thúc đẩy nâng cao chất lượng quản trị, tăng cường tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và uy tín trên thị trường. Đây là những yếu tố nền tảng để doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh và từng bước hội nhập sâu hơn với thị trường vốn quốc tế.
Việc thị trường chứng khoán Việt Nam được FTSE Russell nâng hạng lên thị trường mới nổi thứ cấp từ tháng 9/2026 cũng được kỳ vọng sẽ tạo thêm động lực thu hút dòng vốn đầu tư quốc tế, mở rộng khả năng huy động vốn cho doanh nghiệp trong nước và từng bước giảm áp lực lên hệ thống ngân hàng.
Theo nhiều chuyên gia kinh tế, để duy trì mục tiêu tăng trưởng cao trong giai đoạn tới, Việt Nam cần phát triển cân bằng hơn giữa thị trường tiền tệ và thị trường vốn, giảm dần sự phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng. Khi hệ thống tài chính vận hành cân bằng hơn, thị trường vốn sẽ không chỉ phục vụ các doanh nghiệp quy mô lớn mà còn góp phần hình thành hệ sinh thái tài chính đa tầng, tạo điều kiện để doanh nghiệp ở nhiều quy mô lựa chọn hình thức huy động vốn phù hợp với từng giai đoạn phát triển.
Hướng tới hệ sinh thái tài chính bao trùm hơn
Các chuyên gia cho rằng mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số trong giai đoạn 2026-2030 sẽ đòi hỏi lượng vốn đầu tư rất lớn. Nếu tiếp tục dựa chủ yếu vào tín dụng ngân hàng, áp lực lên thanh khoản hệ thống, lãi suất và an toàn tài chính sẽ ngày càng gia tăng.
Ngược lại, một hệ thống tài chính cân bằng hơn - trong đó tín dụng ngân hàng tập trung đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn, còn thị trường chứng khoán và thị trường trái phiếu đảm nhận vai trò cung cấp nguồn vốn trung và dài hạn sẽ giúp phân bổ nguồn lực hiệu quả hơn, giảm thiểu rủi ro tập trung và nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế trước các cú sốc từ bên ngoài.

Để hiện thực hóa mục tiêu này, bên cạnh việc tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý cho thị trường chứng khoán và thị trường trái phiếu doanh nghiệp, nhiều chuyên gia cho rằng cần nâng cao chất lượng doanh nghiệp niêm yết, tăng cường minh bạch thông tin, phát triển nhà đầu tư tổ chức, đa dạng hóa sản phẩm tài chính và thúc đẩy các định chế tài chính dài hạn như quỹ hưu trí, quỹ đầu tư, doanh nghiệp bảo hiểm. Đồng thời, cần khuyến khích các mô hình tài chính bao trùm, các chương trình tài chính thúc đẩy bình đẳng giới và các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tiếp cận nguồn vốn thuận lợi hơn.
Đối với người dân, một hệ thống tài chính cân bằng không chỉ giúp nền kinh tế nâng cao sức chống chịu mà còn tạo điều kiện để doanh nghiệp mở rộng đầu tư, tạo thêm việc làm và cải thiện thu nhập. Khi doanh nghiệp có nhiều cơ hội tiếp cận nguồn vốn với chi phí hợp lý, hàng triệu lao động - trong đó có lực lượng lao động nữ chiếm tỷ trọng lớn ở các ngành dệt may, da giày, thương mại, dịch vụ và chế biến thực phẩm sẽ được hưởng lợi từ việc làm ổn định và cơ hội nâng cao thu nhập.
Trong hành trình hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số, tái cấu trúc các kênh dẫn vốn vì vậy không chỉ nhằm giảm gánh nặng cho hệ thống ngân hàng mà còn hướng tới xây dựng một hệ sinh thái tài chính bao trùm hơn. Khi nguồn vốn được phân bổ đa dạng và hiệu quả, không chỉ các tập đoàn lớn mà cả doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp khởi nghiệp và doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ cũng sẽ có thêm cơ hội tiếp cận nguồn lực để đầu tư, đổi mới và vươn lên trong chuỗi giá trị. Xa hơn, một hệ thống tài chính cân bằng và đa tầng sẽ góp phần tạo dựng môi trường kinh doanh bình đẳng hơn, nơi mọi doanh nghiệp - bất kể quy mô hay do nam hay nữ làm chủ - đều có cơ hội tiếp cận nguồn lực để phát triển. Khi đó, tăng trưởng kinh tế sẽ không chỉ được đo bằng tốc độ, mà còn bằng khả năng lan tỏa cơ hội đến nhiều nhóm doanh nghiệp và người lao động hơn.