Thu phí bản quyền âm nhạc - Bài cuối: Minh bạch để đồng thuận
Các hộ kinh doanh mong muốn có sự minh bạch trong thông tin, cách thức thu phí bản quyền âm nhạc, để họ chủ động thực hiện nghĩa vụ của mình.
Những băn khoăn về căn cứ thu và cách xác định mức phí cho thấy, điều người kinh doanh mong muốn không phải là né tránh nghĩa vụ mà là một cơ chế thực hiện minh bạch. Đây cũng là nền tảng để hạn chế tranh chấp và tạo đồng thuận.
Người kinh doanh cần được biết điều gì?
Qua ghi nhận của Báo Phụ nữ Việt Nam, điều khiến nhiều chủ quán cà phê, nhà hàng, homestay băn khoăn không phải là việc có phải trả tiền quyền tác giả hay không, mà là trả trong trường hợp nào, trả cho ai và căn cứ nào để xác định mức tiền phải trả. Nhiều chủ cơ sở cho biết họ sẵn sàng thực hiện nghĩa vụ nếu được cung cấp đầy đủ thông tin về phạm vi đại diện của tổ chức thu, cách xác định mức phí cũng như quyền của mình trong quá trình thương lượng.
Khoảng trống về thông tin cũng là nguyên nhân khiến không ít cuộc làm việc giữa tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả và người kinh doanh chưa đạt được sự đồng thuận. Nhiều người chưa phân biệt rõ đâu là quyền của chủ sở hữu quyền tác giả, đâu là quyền của tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả; đồng thời cũng chưa biết mình có quyền yêu cầu những thông tin gì trước khi ký kết hợp đồng hoặc thực hiện nghĩa vụ chi trả.
Theo luật sư Nguyễn Thị Thu Hoài, Đoàn Luật sư TP Hà Nội, pháp luật hiện hành không chỉ quy định nghĩa vụ của người sử dụng tác phẩm mà còn trao cho họ nhiều quyền nhằm bảo đảm quá trình thương lượng diễn ra bình đẳng, minh bạch.
Trước hết, người kinh doanh có quyền yêu cầu tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả chứng minh phạm vi được tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả ủy quyền, cũng như làm rõ mình đang đại diện cho những tác giả và tác phẩm nào. Đây là cơ sở để người sử dụng tác phẩm xác định mình đang giao dịch với đúng chủ thể có quyền, tránh những tranh chấp phát sinh về sau.
Bên cạnh đó, người kinh doanh cũng có quyền được giải thích căn cứ xác định mức tiền quyền tác giả. Việc công khai cách tính phí, phạm vi khai thác tác phẩm hay các tiêu chí được sử dụng để xác định mức tiền phải trả sẽ giúp các bên có cùng cơ sở để trao đổi, thay vì chỉ tiếp cận một con số cuối cùng.

Luật sư Nguyễn Thị Thu Hoài, Đoàn Luật sư TP Hà Nội
Không chỉ được biết, người sử dụng tác phẩm còn có quyền thương lượng. Theo luật sư Nguyễn Thị Thu Hoài, pháp luật không trao cho tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả quyền đơn phương áp đặt mức thu. Mức tiền quyền tác giả, phương thức thanh toán và các điều khoản liên quan đều phải được các bên trao đổi trên nguyên tắc thiện chí, bình đẳng và phù hợp với phạm vi khai thác tác phẩm trong thực tế.
Trong quá trình đó, nếu chưa được cung cấp đầy đủ căn cứ pháp lý, phạm vi đại diện hoặc phương pháp xác định mức phí, người kinh doanh hoàn toàn có quyền yêu cầu tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả giải thích, bổ sung thông tin trước khi quyết định ký kết hợp đồng hoặc thực hiện nghĩa vụ chi trả. Minh bạch ngay từ đầu cũng là cách để hạn chế những tranh cãi không cần thiết.
Đáng chú ý, luật sư Nguyễn Thị Thu Hoài cho biết Nghị định số 134/2026/NĐ-CP đã bổ sung cơ chế xử lý đối với trường hợp các bên đã thương lượng nhưng vẫn không đạt được thỏa thuận về mức tiền quyền tác giả. Quy định này không thay thế nguyên tắc thương lượng, cũng không đồng nghĩa với việc Nhà nước áp đặt mức phí, mà chỉ tạo cơ sở pháp lý để giải quyết những trường hợp bế tắc, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cả chủ sở hữu quyền tác giả lẫn người sử dụng tác phẩm.
Có thể thấy, việc người kinh doanh hiểu đầy đủ các quyền của mình không nhằm kéo dài quá trình đàm phán hay né tránh nghĩa vụ chi trả. Ngược lại, đây là điều kiện để việc thực hiện quyền tác giả diễn ra công khai, minh bạch và đúng quy định của pháp luật. Khi thông tin được chia sẻ đầy đủ và các bên cùng dựa trên nguyên tắc thương lượng, khả năng đạt được sự đồng thuận cũng sẽ cao hơn.
Tuy nhiên, trên thực tế, không phải cuộc thương lượng nào cũng đi đến thống nhất. Khi các bên vẫn còn khác biệt về mức tiền quyền tác giả sau quá trình đàm phán, cơ chế nào sẽ được áp dụng để vừa bảo đảm quyền lợi của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, vừa bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng tác phẩm? Đây cũng là nội dung đáng chú ý mà Nghị định số 134/2026/NĐ-CP đã bổ sung, hoàn thiện.
Minh bạch để hạn chế tranh chấp
Nếu Nghị định số 134/2026/NĐ-CP bổ sung cơ chế xử lý khi các bên thương lượng nhưng không đạt được thỏa thuận thì để cơ chế đó vận hành hiệu quả, điều kiện tiên quyết vẫn là sự minh bạch trong quá trình thực thi. Đây cũng là yếu tố được nhiều chuyên gia và cơ quan quản lý nhìn nhận là "chìa khóa" để hạn chế tranh chấp về quyền tác giả trong thời gian tới.
Thực tế cho thấy, phần lớn băn khoăn của các cơ sở kinh doanh không nằm ở việc có phải trả tiền quyền tác giả hay không, mà ở câu hỏi "trả như thế nào cho đúng". Khi căn cứ thu, phạm vi đại diện của tổ chức thu hay phương pháp xác định mức tiền chưa được giải thích đầy đủ, quá trình thương lượng rất dễ phát sinh những cách hiểu khác nhau, thậm chí dẫn đến tranh chấp.
Trao đổi tại họp báo thường kỳ quý II của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, ông Phạm Thanh Tùng, Phó Cục trưởng Cục Bản quyền tác giả cho biết việc sửa đổi Điều 33 Nghị định số 17/2023/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 134/2026/NĐ-CP) nhằm hoàn thiện cơ chế thực thi quyền tác giả, quyền liên quan, đồng thời tạo hành lang pháp lý rõ ràng hơn cho cả chủ sở hữu quyền và người sử dụng tác phẩm.
Theo ông Tùng, thương lượng vẫn là nguyên tắc cốt lõi trong việc xác định mức tiền quyền tác giả. Quy định mới không trao cho cơ quan nhà nước quyền áp đặt mức phí, mà chỉ bổ sung cơ chế xử lý trong trường hợp các bên đã thương lượng nhưng vẫn không đạt được thỏa thuận. Mục tiêu là tránh tình trạng bế tắc kéo dài, đồng thời bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cả chủ sở hữu quyền tác giả và người sử dụng tác phẩm.

Ông Phạm Thanh Tùng, Phó Trưởng Phòng Quản lý và hợp tác quốc tế về quyền tác giả, quyền liên quan (Cục Bản quyền tác giả). Ảnh: Mai An
Ở góc độ thực tiễn, cơ chế này chỉ phát huy hiệu quả khi quá trình thương lượng được đặt trên nền tảng thông tin đầy đủ và minh bạch. Theo ông Phạm Thanh Tùng, các tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả cần chủ động cung cấp cho người sử dụng tác phẩm các thông tin về phạm vi đại diện, căn cứ pháp lý, phương pháp xác định mức tiền quyền tác giả cũng như những nội dung liên quan. Khi các bên cùng tiếp cận đầy đủ thông tin, quá trình đàm phán sẽ thuận lợi hơn, hạn chế những cách hiểu khác nhau và giảm nguy cơ phát sinh tranh chấp.
Trên thực tế, những tín hiệu tích cực đã bắt đầu xuất hiện. Theo số liệu của Trung tâm Bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam (VCPMC), năm 2025 doanh thu tiền bản quyền đạt hơn 424 tỷ đồng; số lượng cơ sở kinh doanh chủ động ký hợp đồng sử dụng âm nhạc tăng khoảng 150% so với cùng kỳ năm trước. Điều đó cho thấy nhận thức về quyền tác giả đang từng bước được nâng lên. Tuy nhiên, để xu hướng này tiếp tục lan tỏa, việc thực thi pháp luật cần đi cùng với sự công khai, minh bạch và đối thoại giữa các bên.
VCPMC hướng dẫn quy trình cấp phép sử dụng tác phẩm âm nhạc
Theo hướng dẫn của Trung tâm Bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam (VCPMC), cơ sở kinh doanh sử dụng tác phẩm âm nhạc thực hiện theo 4 bước:
Bước 1: Gửi hồ sơ đăng ký (kê khai loại hình kinh doanh, danh sách bài hát sử dụng, bản sao đăng ký kinh doanh).
Bước 2: VCPMC căn cứ Phụ lục II Nghị định 17/2023/NĐ-CP để tính tiền bản quyền, gửi bảng tính và hợp đồng để hai bên thống nhất, ký kết.
Bước 3: VCPMC ký hợp đồng, xuất hóa đơn và gửi lại cho cơ sở kinh doanh để thực hiện thanh toán.
Bước 4: Sau khi thanh toán, VCPMC cấp Giấy chứng nhận thực thi quyền tác giả âm nhạc.
Theo VCPMC, việc cấp phép được thực hiện đối với nhiều lĩnh vực sử dụng âm nhạc như: nhà hàng, karaoke, quán cà phê, vũ trường, siêu thị, khách sạn, trung tâm thương mại, khu vui chơi giải trí, phát thanh - truyền hình, quảng cáo...
Thời gian xử lý hồ sơ: tối đa 7 ngày làm việc đối với tác phẩm âm nhạc Việt Nam và 14 ngày làm việc đối với tác phẩm âm nhạc quốc tế.
Nguồn: Trung tâm Bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam (VCPMC).
Có thể thấy, việc bổ sung Điều 33 tại Nghị định số 134/2026/NĐ-CP không nhằm thay thế nguyên tắc thương lượng mà hoàn thiện cơ chế xử lý khi thương lượng không đạt kết quả. Nhưng một quy định pháp luật chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi được triển khai bằng những quy trình rõ ràng, dễ tiếp cận và tạo được niềm tin cho người thực hiện.
Với người kinh doanh, điều họ cần không chỉ là biết mình phải trả bao nhiêu tiền, mà còn phải được giải thích vì sao phải trả, trả cho ai và mức tiền được xác định trên cơ sở nào. Ngược lại, các tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả cũng cần chủ động công khai phạm vi đại diện, căn cứ pháp lý và phương thức xác định mức tiền để tạo dựng niềm tin trong quá trình thương lượng. Khi quyền và nghĩa vụ của mỗi bên được làm rõ, những băn khoăn sẽ dần được tháo gỡ và tranh chấp cũng có điều kiện giảm bớt.
Suy cho cùng, một cơ chế bảo hộ quyền tác giả chỉ có thể nhận được sự đồng thuận khi mỗi khoản thu đều được giải thích bằng những căn cứ rõ ràng, mỗi quyền và nghĩa vụ đều được thực hiện một cách minh bạch. Khi đó, việc chi trả tiền quyền tác giả sẽ không còn bị nhìn nhận là một gánh nặng đối với người kinh doanh, mà trở thành một phần của môi trường kinh doanh văn minh, tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ và bảo đảm hài hòa lợi ích giữa người sáng tạo với người sử dụng tác phẩm.