Vu lan nhớ Má
Ảnh minh họa
Đời người dân quê mình, sống chân phương như cây cỏ giữa đồng. Người ta không biết dùng những từ ngữ hoa mỹ, cũng chẳng bao giờ biết nói những câu "con thương ba, thương mẹ" ngọt ngào.
1.
Ông Tám Nghĩa ngồi trên chiếc võng dù móc giữa hai cột nhà bằng gỗ dừa đã đen bóng màu thời gian. Bàn tay ông vốn đã quen với cán chèo, lưỡi hái, quen với việc chịu đựng cái cơ cực của nắng dầm mưa bão từ thời 15, 16 tuổi, nay run run cầm chiếc kim khâu nhỏ, mỉm cười xỏ từng sợi chỉ tơ màu xám để vá lại cái áo bà ba cũ của mình. Mỗi mũi kim đâm qua lớp vải sờn vai là một lần ký ức trong ông lại trôi về mấy chục năm về trước…
"Thằng Hai đâu rồi bà?" - Ông Tám Nghĩa ngoái đầu vô gian bếp ngút ngàn khói củi, cất giọng ồm ồm.
Bà Tám bước ra, tay bưng đĩa chuối sứ nướng thơm lừng còn bốc khói: "Nó ra ngoài ngã ba sông lãnh mấy gánh bông cúc vàng về đặt trước nhà. Chiều nay giữa tháng Bảy rồi, nó bảo phải dọn dẹp nhà cửa cho tươm tất để cúng Vu lan".
Ông Tám dừng tay khâu, mắt dõi ra khoảng sân đất mênh mông trước nhà, nơi có cây gáo đôi cổ thụ đang trút những chiếc lá vàng cuối cùng xuống mặt kênh. Cái từ "Vu lan" vang lên nhẹ hẫng giữa buổi chiều êm ả, nhưng lại làm lồng ngực ông nghẹn lại một nhịp. Ở cái tuổi gần 80, mỗi bận nghe gió thu chao qua mái lá, ông lại thấy thời gian của mình như ngọn đèn dầu trước gió, hao mòn từng ngày. Nhưng hơn cả nỗi sợ tuổi già hay cái chết, trong lòng ông Tám Nghĩa bao giờ cũng chòng chành một nỗi nhớ niềm thương quay quắt về má ông, người đàn bà miệt vườn đã gieo xuống đời ông cả một vùng nhân nghĩa bao la và sâu nặng.
2.
Má ông Tám là người chèo đò ngang qua sông Lớn. Trong ký ức của ông, hình ảnh má gắn với chiếc nón lá rách vành, chiếc áo bà ba màu nâu sẫm sờn vai ướt đẫm mồ hôi và cái dáng đứng liêu xiêu trên mạn đò giữa những chiều mưa giông trắng xóa. Căn nhà lá xiêu vẹo bên bến sông hồi ấy nghèo rớt mồng tơi, một tay má chèo đò, quăng lưới, mò ốc để nuôi 4 anh em ông ăn học giữa những năm tháng gieo neo, thiếu hụt đủ bề.
Ông Tám nhớ mùa Vu lan năm ông 12 tuổi. Nước lũ tràn về dâng cao qua cối xay lúa, ngập trắng cả vạt sân. Mâm cơm cúng ngày rằm tháng Bảy của má chỉ có tô cá linh kho lạt với ít bông điên điển hái ngoài bờ rào và đĩa khoai lang luộc bở xốp. Vậy mà trước ban thờ, má vẫn thành kính chắp tay, dạy bảo đàn con: "Đời người ta có thể thiếu cái ăn, cái mặc, chớ không thể thiếu cái lòng hiếu nghĩa nghe con. Mình sống sao cho đúng đạo, để mai này con cái nhìn vô mà học theo làm người".
Chiều hôm đó, mưa dầm lâm râm, má dắt ông lên ngôi chùa làng nằm nép mình sau hàng dừa. Trong chánh điện nghi ngút khói hương trầm, má lấy từ trong túi áo ra một bông hoa hồng màu đỏ thắm, bông hoa má tự tay tỉ mẩn cắt gọt từ mảnh vải thừa xin được của thợ may ngoài chợ huyện. Má cài bông hoa lên ngực áo của ông, rồi đôi bàn tay thô ráp xoa đầu ông, dặn dò: "Năm nay má còn sống để cài cho con bông hoa đỏ này. Mai này má có già, có về với đất, con có đeo bông hoa trắng thì cũng nhớ sống cho tử tế, đừng làm điều gì gian dối hay thẹn với lòng nghe con...".
Giọt nước mắt của má rơi xuống vạt áo sơ mi trắng của đứa con trai nhỏ. Câu dặn ấy theo Tám Nghĩa suốt cả cuộc đời, qua những năm tháng ông lội bùn khai phá vùng đất đồng chua nước mặn này, qua bao biến cố thăng trầm, cho đến tận khi tóc ông đã dạt sang màu mây trắng.
3.
Thời gian như con thoi qua lại trên mạn đò. Khi Tám Nghĩa lớn lên, chiến tranh càn qua miền cù lao. Những năm tháng bom rơi đạn nổ, ông theo anh em vô chiến khu. Đêm chia tay má bên bờ kênh Sáng, trời tối đen như mực. Má không hề rơi giọt nước mắt nào, chỉ run run nắm chặt bàn tay con trai, nhét một gói xôi nếp bọc trong lá chuối tươi và chiếc khăn rằn bằng vải tự may. Má bảo: "Cứ đi đi con, má ở nhà chèo đò nuôi em. Khi nào hết giặc thì về với má".
Giữa những cơn mưa bom lửa đạn chốn rừng sâu đầm lầy, mỗi lần mệt mỏi hay đối mặt với cái chết cận kề, Tám Nghĩa lại nhớ đến hơi ấm từ bàn tay má, nhớ đến đóa hoa hồng đỏ bằng vải cũ má cài trên ngực áo ngày Rằm tháng Bảy năm nào, nhớ lời dặn dò hiếu nghĩa…
Đến ngày đất nước trọn niềm vui, Tám Nghĩa khoác ba lô trở về làng. Nhưng bến sông xưa vẫn còn đó, con đò cũ vẫn gác mạn bên cây còng, mà má thì đã vĩnh viễn nằm lại dưới lớp đất bãi bồi. Má mất vào một chiều cuối thu, khi dòng kênh Sáng cạn nước, những vạt sen ngoài đầm gục đầu trút lá. Ngày giỗ má, ông Tám quỳ bên nấm mồ xanh cỏ, nắm lấy vệt đất lạnh, thấy tim mình như vỡ ra thành vô vàn mảnh vụn. Từ mùa Vu lan năm đó, trên ngực áo ông vĩnh viễn mang một đóa hoa hồng màu trắng…
4.
"Ba! Ba uống chén nước trà cho ấm dạ!"
Tiếng cất lên ngọt ngào của đứa con gái út kéo ông Tám về với thực tại. Út Thắm đã ngoài 30, da sạm nắng biển nhưng nụ cười tươi rói, tay bê chiếc khay gỗ, bên trên có bình trà nóng cùng đĩa mứt gừng cay xè do chính tay cô sên từ sớm.
"Mấy gánh bông cúc anh Hai mang về đẹp lắm ba ơi! Lớp đơm ngoài sân, lớp dâng lên bàn thờ nội", Út Thắm vừa rót trà vừa thủ thỉ.
Ông Tám cầm chén trà nóng, hơi nước bốc lên nghi ngút làm nhòe đi đôi mắt đã kéo mây đục. Ông nhìn con gái, rồi nhìn ra khoảng sân gạch mênh mông, nơi thằng Hai đang cặm cụi dùng chổi xương quét sạch từng vệt lá rơi, kê lại mấy chậu cúc vàng ngay ngắn bên lối đi. Tự nhiên, ông Tám Nghĩa thấy lòng mình ngập tràn một niềm ấm áp…
Đời người dân quê mình, sống chân phương như cây cỏ giữa đồng. Người ta không biết dùng những từ ngữ hoa mỹ, cũng chẳng bao giờ biết nói những câu "con thương ba, thương mẹ" ngọt ngào. Tất cả cái tình, cái hiếu đều đơm hoa kết trái qua những hành động lặng lẽ hằng ngày. Ấy là những lần quét sân, đơm hoa ngày lễ, là đĩa chuối nướng tự làm, là chén trà con gái rót dâng ba, là sự chuẩn bị chu đáo cho ngày tưởng nhớ tổ tiên cha mẹ..
Chiều buông xuống trên xóm Chà Là. Tiếng chuông chùa từ xa thỉnh lên từng tiếng "boong... boong..." ngân vang qua mặt kênh tĩnh lặng, gieo vô lòng người những nốt trầm bình yên. Ông Tám Nghĩa đứng dậy, chỉnh lại vạt áo bà ba vừa vá xong. Ông cùng các con bước vô gian nhà trên. Bàn thờ tổ tiên đã được lau chùi sạch sẽ, nghi ngút khói hương trầm thơm nồng. Bức ảnh của má ông được lau sáng bóng, ánh mắt người đàn bà chèo đò ngày xưa như đang mỉm cười hiền hậu nhìn xuống con cháu.
Út Thắm lấy từ trong chiếc hộp gỗ ra mấy đóa hoa. Cô tiến lại gần ông Tám, bà Tám, nhẹ nhàng cài lên ngực áo cha mẹ một đóa hoa hồng màu trắng.
"Ba, mẹ..." - Út Thắm nghẹn ngào, mắt rơm rớm nước.
Ông Tám Nghĩa xoa vệt tóc mai của con gái, mỉm cười: "Ba biết rồi. Đeo hoa trắng để nhớ nội, ngoại của bây, để biết mình đã từng được thương yêu, che chở đến nhường nào".
Rồi ông quay sang nhìn hai đứa con mình. Con Út Thắm và thằng Hai đều đang đeo trên ngực áo một đóa hoa hồng màu đỏ thắm, nét mặt rạng rỡ. Ông Tám Nghĩa vươn bàn tay run run, khẽ chạm vào cánh hoa đỏ trên ngực thằng Hai, rồi ôm cả hai đứa con vô lòng. Giọt nước mắt già nua của ông lăn dài trên đôi má nhăn nheo. Ông hạnh phúc vì má ông dẫu đã đi xa, nhưng cái mầm hiếu nghĩa mà má gieo xuống đời ông nay đã đơm hoa, kết trái trọn vẹn nơi những đứa con của ông tới tận bây giờ.
5.
Đêm Vu lan chìm trong không gian êm đềm của vùng sông nước. Mặt trăng rằm tháng Bảy tròn vành vạch, rọi một dải bạc lấp lánh trên dòng kênh Sáng. Gió thu thổi qua rặng dừa kêu lên những âm thanh xào xạc. Mấy đứa cháu nhỏ của ông Tám Nghĩa xúng xính trong bộ áo mới, đang ngồi vây quanh mâm bánh ít vừa hấp chín tới, tiếng cười đùa trong trẻo làm sáng cả một góc sân.
Ông Tám Nghĩa ngồi lại bên chiếc võng ngoài hiên, nhấp từng ngụm trà thơm, nhìn đàn cháu đang nô đùa bên những chậu hoa cúc vàng rực rỡ dưới ánh trăng. Trong lòng ông, một cảm giác thanh thản, bao la như lòng sông mùa nước rút. Ông ngước mắt nhìn lên bầu trời đêm mênh mông, nơi những đám mây trắng nhè nhẹ trôi qua vầng trăng rằm, chợt thấy bóng hình má như đang hiện về, nở nụ cười từ bi và dịu dàng gật đầu thiệt hiền hậu…